Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Nhật Úc tăng cường quan hệ : Bắc Kinh quan ngại

RFI .Thứ hai 07 Tháng Bẩy 2014
Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và phu nhân đến Canberra ngày 07/07/2014. Chuyến công du Úc đầu tiên của một Thủ tướng Nhật từ năm 2002.
Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và phu nhân đến Canberra ngày 07/07/2014. Chuyến công du Úc đầu tiên của một Thủ tướng Nhật từ năm 2002.
Reuters

Trọng Nghĩa
Chuyến công du nước Úc của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe khởi sự từ hôm nay, 07/07/2014 đang rất được chú ý, nhất là từ phía Trung Quốc, đối tác thương mại số một của Úc hiện nay. Điều khiến Bắc Kinh quan ngại chính sự hình thành của một liên minh chặt chẽ giữa Tokyo và Canberra, đặc biệt là về phương diện an ninh quốc phòng, vào lúc mà Trung Quốc không che giấu tham vọng bành trướng trong vùng Châu Á Thái Bình Dương.

Chỉ ít lâu trước khi thực hiện chuyến thăm Úc đầu tiên của một Thủ tướng Nhật từ năm 2002 đến nay, ông Shinzo Abe đã cho thấy là một trong các trọng tâm của ông là việc tăng cường quan hệ quốc phòng và an ninh với Úc. Không phải là ngẫu nhiên mà vài hôm trước khi Thủ tướng Abe lên đường, nội các của ông đã quyết định dỡ bỏ lệnh cấm can thiệp võ trang ở nước ngoài tồn tại từ 6 thập niên qua, để tạo điều kiện cho quân đội Nhật trợ giúp các đồng minh như Úc và Mỹ trong trường hợp bị tấn công.
Bên cạnh đó, Tokyo cũng đã giảm nhẹ đáng kể các hạn chế về việc xuất khẩu vũ khí mà họ tự áp đặt từ hành chục năm nay. Quyết định này rõ ràng là đã mở đường cho thỏa thuận về tàu ngầm mà Úc rất muốn ký kết với Nhật Bản để tăng cường năng lực quân sự của minh.
Theo giới phân tích, trước các hành động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc trong các cuộc tranh chấp biển đảo với các láng giềng, trong đó có Nhật Bản, chính quyền của Thủ tướng Abe đã tìm cách đối phó bằng cách củng cố liên minh với nhiều nước trong khu vực, và đã được chính quyền Úc của Thủ tướng Abbott đáp ứng thuận lợi.
Giải thích về thái độ của Úc, các nhà quan sát đều cho rằng chính sức mạnh quân sự càng lúc càng tăng của Trung Quốc, kèm theo với thái độ ngày càng cứng rắn của Bắc Kinh, sẵn sàng dùng sức mạnh để áp đặt các yêu sách chủ quyền trên cả Biển Đông lẫn Biển Hoa Đông đã khiến Canberra quan ngại và tìm cách liên kết chặt chẽ hơn với Tokyo, vì dẫu sao Nhật Bản cũng là một cường quốc khu vực.
Cho dù Trung Quốc là đối tác thương mại tối quan trọng của Úc, nhưng trong thời gian gần đây, Canberra không ngần ngại chỉ trích Bắc Kinh về những động thái bị đánh giá là quá đáng.
Việc Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên Biển Hoa Đông vào năm ngoái đã bị Úc chỉ trích mạnh mẽ, thậm chí đại sứ Trung Quốc còn bị triệu mời lên để nhận công hàm phản đối.
Mới đây, khi Bắc Kinh đưa giàn khoan HD-981 xuống Biển Đông, Ngoại trưởng Úc Bishop cũng bày tỏ thái độ quan ngại, kêu gọi các bên tránh có những hành vi khiêu khích. Canberra xác định lập trường trung lập trong vụ tranh chấp chủ quyền, nhưng có lợi ích khi quyền tự do hàng hải, tự do buôn bán cũng như luật pháp quốc tế được tôn trọng.
Trong xu hướng liên kết chặt chẽ với Nhật Bản đang được Thủ tướng Abbott theo đuổi, thành tố kinh tế cũng rất quan trọng, để giúp Úc bớt lệ thuộc vào Trung Quốc. Theo ông Kerry Brown, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Sydney : « Thâm ý của Thủ tướng Abbot là Úc cần phải có một khuôn khổ tốt cho các thỏa thuận thương mại tự do với Hàn Quốc và Nhật Bản - họ là đồng minh lớn về kinh tế - nhờ đó họ có thể đa dạng hóa quan hệ và không bị phụ thuộc quá đáng [vào Trung Quốc].
Tương đồng quan điểm giữa hai ông Abe và Abbott chắc chắn sẽ giúp cho liên minh Nhật-Úc chặt chẽ hơn, mà đối tượng nhắm tới nhưng không được nói ra là Trung Quốc. Chính vì vậy mà Bắc Kinh lo ngại.
Chuyên gia Kerry Brown khẳng định : « Trung Quốc sẽ phân tích kỹ lưỡng mọi tuyên bố của hai ông Abe và Abbott nhân chuyến thăm này. Bắc Kinh sẽ đặc biệt chú ý đến ngôn từ được sử dụng khi nói về tính chất quan hệ an ninh Nhật Bản-Úc, và về bất kỳ sự thống nhất nào giữa hai bên trong cách tiếp cận với Trung Quốc ».

Chủ Nhật, 6 tháng 7, 2014

Việt Nam lại đứng thứ nhì thế giới!


Tuy vẫn biết VN hay được xếp thứ hạng rất cao*, nhưng việc tờ báo The Economist lại vừa ra một bài mới về xếp hạng “độ tử tế của các nước” (the goodness of nations), xếp hạng 125 nước, đo mức độ tử tế của các nước trong cộng đồng quốc tế, mà trong bảng xếp hạng này, Việt Nam suýt chiếm ngôi đội sổ, làm tôi cũng phải giật mình!
Xem bài báo ở đây (cảm ơn 1 người bạn đã chỉ cho biết):
http://www.economist.com/blogs/graphicdetail/2014/06/daily-chart-18
Chi tiết xem ở: http://www.goodcountry.org/
Theo bảng xếp hạng đó thì đứng ở vị trí số to nhất (125) là Libya, còn vị trí thứ 124, ngôi á hậu là Việt Nam.
Bảng xếp hạng về độ tử tế này được tính theo tổng hợp của 7 lĩnh vực: đóng góp về khoa học công nghệ, đóng góp về văn hóa, đóng góp vào hòa bình và an ninh thế giới, trật tự thế giới, bảo vệ môi trường của hành tinh, đóng góp vào sự phồn vinh và bình đẳng của thế giới, đóng góp về y tế sức khỏe. Mức độ đóng góp này được tính trên nền mức độ giàu nghèo của các nước. (Tức là nước nghèo có đóng ít hơn cũng có thể được tính ngang bằng nước giàu mà đóng góp nhiều hơn).
Về khoa học công nghê, Việt Nam đứng thứ 89/125, với tỷ lệ đóng góp tương đối là âm, đặc biệt là về bằng sáng chế là âm nặng.
Về mặt văn hóa, Việt Nam có nhỉnh hơn, đứng thứ 76/125, khá tốt về mặt xuất khẩu đồ sáng tạo nghệ thuật, nhưng lại đứng bét bảng về vấn đề tự do ngôn luận, và cũng âm về tự do đi lại.
Về mặt canh giữ hòa bình thế giới, tuy Việt Nam cùng với Cu Ba là hai trụ cột của hòa bình thế giới, nhưng chỉ đứng thứ 103/125. (Cuba thì không có xếp hạng trong danh sách 125 nước, có lẽ vì quá đặc biệt nữa). Có mỗi một điểm sáng trong hòa bình thế giới của Việt Nam là vấn đề xuất khẩu vũ khí, đơn giản là vì VN chẳng làm được cái vũ khí nào đáng để người khác mua? Hai khoản âm nặng của VN trong lĩnh vực hòa bình và an toàn thế giới là lĩnh vực an toàn internet và lĩnh vực nộp tiền cho quân của Liên Hiệp Quốc.
Về khoản trật tự thế giới thì VN đứng thứ 123/125, nói đơn giản là vô tích sự: không có nuôi được người tị nạn nào từ các nước khác, mà trái lại là cái nguồn sản sinh người tị nạn, cũng chẳng tuân thủ hay ký được nhiều các hiệp định quốc tế. Chỉ có mỗi một điểm “không tối” chứ chưa phải là sáng sủa, đó là có hạn chế được sự bùng nổ dân số.
Về khoản bảo vệ môi trường (hành tinh và khí hậu) thì VN cũng sát đội sổ, đứng thứ 123/125, đặc biệt âm nặng về việc thải chất độc ra môi trường.
Về việc đóng góp vào phồn vinh và bình đẳng kinh tế thế giới, VN ngoi lên được thứ 79/125, tuy chẳng giúp được ai và còn hạn chế tư do thương mại, nhưng không đến nỗi bị rơi vào cụm các nước ăn bám.
Về khoản đóng góp cho y tế và sức khỏe thế giới, VN cũng lẹt đẹt ở thứ hạng 111/125, chủ yếu là tầu há mồm nhận viện trợ của nước ngoài về lương thực thuốc thang, và lại còn là ổ ma túy. Tuy nhiên có một điểm sáng là có đóng góp vào tổ chức y tế thế giới (WHO).
Tính tổng cộng lại, thì VN đứng thứ 124/125 về độ tử tế trên thế giới.
ĐCS VN có nên tự hào về thành tích này và thông báo cho nhân dân biết hay không?

http://ntuongthuy.blogspot.ch . 25.06.2014
============
* hiểu là từ dưới lên
Nguồn:
http://zung.zetamu.net/2014/06/vi%E1%BB%87t-nam-l%E1%BA%A1i-d%E1%BB%A9ng-th%E1%BB%A9-nhi-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi/

“World Cup Báo chí”: CHXHCNVN lọt vào “Chung Kết”



Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Đứng thứ 174 trên tổng số 180, CS/XHCN-Việt Nam là một trong 6 quốc gia lọt vào “chung kết” cúp Báo chí mất tự do của tổ chức quốc tế Phóng viên Không Biên giới, (RSF- Reporters sans Frontieres ). Xếp hạng về tự do báo chí năm 2014, theo một phúc trình mà RSF vừa mới loan báo.
Báo chí Việt Nam
Đố ai chỉ ra được trong “rừng” báo này báo nào có tổng biên tập không phải là đảng viên cộng sản ? và tờ nào là của dân chúng,tư nhân xuất bản ?.
Vượt qua mặt đàn anh, đứng ngay trước Trung Quốc “đồng chí” láng giềng có cùng chế độ độc tài Đảng CS trị - Việt Nam (174) Trung Quốc (175 Somalia (176) Syria (177)Turkmenistan (178) Bắc Triều Tiên (179) và Eritrea (180) những quốc gia khét tiếng về đàn áp ngôn luận, độc quyền báo chí.
Cũng từ đó mà CSTQ và CSVN kề vai nhau tuyệt đối đoạt luôn các thứ hạng về giam cầm các bloggers và các công dân mạng, CSTQ (hạng nhất) và CSVN (hạng nhì). Trên bản đồ thế giới của RSF bốn nước CS, Việt Nam, Lào, Trung Quốc và Bắc Hàn tạo thành một khối không có tự do báo chí được ghi chú tô đậm một màu đen u tối nhất.
Trong phần nhận xét, RSF viết rằng “Việt Nam đã tăng cường kiểm soát thông tin đến mức gần bắt kịp với người anh cả Trung Quốc.”
Các dẫn chứng RSF đưa ra để chứng minh cho lập luận này là các trang tin độc lập ‘bị giám sát trên Internet’, các chỉ thị khắc nghiệt, làn sóng bắt bớ và các phiên tòa giả tạo kết án tùy tiện theo chỉ đạo của nhà nước đảng CSVN .
"Việt Nam tiếp tục là nhà tù lớn thứ hai trên thế giới giam giữ các bloggers và các công dân mạng."
Phúc trình của RSF: “Việt Nam tiếp tục là nhà tù lớn thứ hai trên thế giới (sau CSTQ) giam giữ các bloggers và các công dân mạng,” bản phúc trình viết và cho biết có đến 25 trong tổng số 34 cây viết blog đang bị giam cầm là bị bắt giữ trong nhiệm kỳ ông Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
Nghị định 72 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành với mục đích cấm các trang cá nhân tổng hợp thông tin cũng được RSF nêu ra để khẳng định rằng ‘Đảng Cộng sản đã tăng cường kiểm duyệt lên một mức độ mới’.
Nó (Nghị định 72) cho thấy Đảng đang phát động một cuộc tấn công toàn diện vào những người dùng Internet thế hệ mới mà họ xem như là đối trọng nguy hiểm đối với truyền thông truyền thống (của Nhà nước).
Nhận xét này cũng được Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), một tổ chức cổ súy cho tự do báo chí quốc tế, chia sẻ trong báo cáo thường niên của họ về tình hình báo chí thế giới với tiêu đề ‘Tấn công và Báo chí’: “Trên thế giới không có nơi nào để so sánh” - Tình trạng đàn áp các cây viết blog không cùng chính kiến với độc tài toàn trị ở Việt Nam ngày càng tồi tệ và quốc gia này (Việt Nam) chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc về số lượng nhà báo bị cầm tù với 18 người.” (*)
TBT/CSVN Nguyễn Phú Trọng (duy nhất trong khối Asean)vẫn là một trong những sát thủ nằm trên danh sách các 'Sát thủ của tự do báo chí' mới được cập nhật của RSF ..
Trong Danh sách của RSF được công bố nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới trước đó, Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng cũng tiếp tục “ngự” trong danh sách 39 sát thủ đối với tự do thông tin (Predators of Freedom of Information) của tổ chức này. Trong phần chú thích về ông Trọng, RSF thay lời ông này tự thuật về bản thân:
"Tôi (ông Trọng) rất quen thuộc với truyền thông và báo chí vì bản thân tôi cũng là nhà báo từ năm 1967 tới năm 1966, sau đó làm biên tập viên của Tạp chí Cộng sản. Ở Việt Nam nhà báo được tự do tác nghiệp, miễn là đừng công kích Đảng CSVN. Với tổng cộng 100 năm tù dành cho các blogger và các nhà bất đồng chính kiến trên mạng chỉ trong 12 tháng qua... tôi tin rằng kỷ lục của tôi tốt hơn hẳn người tiền nhiệm, ông Nông Đức Mạnh."
Bản đồ tự do báo chí năm 2014. “Màu đen” là những nước vi phạm nghiêm trọng, trong đó bốn nước CS, Việt Nam, Lào, Trung Quốc và Bắc Hàn tạo thành một khối màu đen liên kết u tối bẩn thỉu nhất. (rsf.org)


H3
Và vì vậy mới đây trong nước xuất hiện “Hội nhà báo Độc Lập Việt Nam” những “cây cọ Độc Lập” thich dùng màu trắng chấm phá trên nền “đen” của Việt nam trên bản đồ tự do báo chí thế giới.
Thật mỉa mai, như trò hề cho thế giới bêu riếu, “nhà nước đảng ta” với 800 tờ báo các loại hơn chục ngàn phóng viên nhưng Việt nam lại là quốc gia nằm trong hàng “đội sổ” vi phạm nghiêm trọng điều khoản thứ 19 hiến chương quốc tế nhân quyền về tự do ngôn luận và báo chí.
Đất nước vốn dĩ còn rất nghèo trong khu vực, nhưng CSVN lại chủ trương lấy mồ hôi nước mắt người dân đóng thuế chi trả toàn bộ giấy mực tiền lương cho ngần ấy tờ báo và phóng viên hàng tháng, hàng năm chỉ để làm công cụ cho riêng đảng CSVN!? Một điều hiếm có trong cộng đồng các quốc gia dân chủ văn minh đa nguyên, dù họ giàu mạnh hơn Việt Nam nhiều lần.
 Khác biệt hoàn toàn với hệ thống báo chí là công cụ của đảng CS – “Hội nhà báo độc lập Việt Nam” xuất hiện như ánh bình minh tự do vươn lên soi rọi vào miên trường của bóng tối bưng bít thông tin ngôn luận – Chính họ những thành viên, phóng viên nhà báo độc lập đang bất chấp mọi đe dọa, dấn thân nỗ lực để đưa những thông tin mà thật sự cần cho người dân, cần cho công chúng, cần cho thời cuộc, mà nhà cầm quyền đã không muốn cho người dân biết như từ trước đến nay.
Họ, “Hội nhà báo Độc Lâp” đang sẵn sàng hiến thân, đi đến cùng sự chọn lựa của mình, để có thể từng bước tạo ra một nền báo chí tự do thật sự, nền báo chí vì dân, nền báo chí vì sự phát triển xã hội và đất nước chứ không là vì sự sống còn của một đảng phái, một nhóm người.

PHẠM CHÍ DŨNG HỘI NHÀ BÁO ĐỘC LẬP, TIẾNG NÓI CỦA SỰ THẬT

Thụy My, theo RFI
Ngày 04/07/2014, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam (tiếng Anh: Independent Journalists Association of Vietnam – IJAVN) đã chính thức ra đời tại Việt Nam. IJAV do một một nhóm nhà báo độc lập khởi xướng. Chủ tịch hội là nhà báo Phạm Chí Dũng, phó chủ tịch thường trực là nhà báo, linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh của Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn – là những cây bút được tổ chức Phóng viên Không biên giới xếp vào danh sách 100 Anh hùng thông tin, nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3 tháng Năm năm nay.
RFI phỏng vấn nhà báo Phạm Chí Dũng, Chủ tịch IJAVN về sự kiện này.

Nhà báo Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam trong buổi họp các thành viên ngày 03/04/2014 tại Saigon.

RFI : Thân chào tiến sĩ Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập vừa được thành lập. Thưa anh, ngày ra đời của Hội lại trùng với ngày Quốc khánh Hoa Kỳ 4/7. Sự trùng hợp này là ngẫu nhiên hay có chủ ý?
Nhà báo Phạm Chí Dũng : Nói như nhà thơ Bùi Minh Quốc – Phó chủ tịch IJAVN, đây là một sự ngẫu nhiên thú vị, nhưng lại đặc biệt có ý nghĩa. Thông thường ngày ra đời của một tổ chức phải gắn với một ý nghĩa nào đó. Ý nghĩa lại phải sinh ra từ sự kiện, sự kiện càng có tầm thì ý nghĩa càng sâu sắc.
Ý nghĩa ấy gắn với bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 vào thời khai sinh ra Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tính chất độc lập của bản tuyên ngôn này lại rất phù hợp với tính cách độc lập của Hội các nhà báo tự do. Nếu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hướng đến một sự tách rời hoàn toàn khỏi ý đồ thực dân của nước Anh thì nhiệm vụ của báo giới độc lập Việt Nam vào lúc này và trong những năm tới cũng không khác biệt, tức không chỉ độc lập với các hội đoàn nhà nước mà còn phải đóng góp cho quốc gia để gìn giữ nền độc lập nước nhà trước họa xâm lăng Trung Quốc.
RFI : Thưa anh, tại Việt Nam đã có Hội Nhà báo tồn tại từ rất lâu rồi, như vậy có nghĩa là Hội này không làm được nhiệm vụ của mình ?
Lẽ dĩ nhiên, không cần phải đẻ ra thêm một hội đoàn nào khác nếu Hội Nhà báo Việt Nam thể hiện đúng tiếng nói tự do báo chí. Song trong rất nhiều trường hợp, hội đoàn nhà nước này đã chỉ phản ánh quyền tự do ngôn luận một chiều theo cung cách bảo thủ, giáo điều và lợi ích nhóm của cơ quan tuyên giáo ; chứ không phải là nguyện vọng, tâm tư và chí khí của đại đa số người viết báo ở Việt Nam. Rất nhiều vấn nạn đã và đang tồn tại trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa, tôn giáo và cả chính trị cần phải được phản biện và thay đổi ; nhưng có thể nói công luận hầu như không biết đến sự có mặt, càng không biết về sự lên tiếng của Hội nhà báo Việt Nam.
Một trong những tiêu điểm phủ rộng toàn bộ xã hội là trước bản Hiến pháp năm 2013 với tinh thần thụt lùi quá rõ, Hội Nhà báo Việt Nam đã làm gì để cải tạo, hay chẳng làm gì cả? Hoặc một số trường hợp báo chí và nhà báo bị cơ quan an ninh quy kết điều luật 258 về “lợi dụng quyền tự do dân chủ…” – một điều luật đã bị Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và nhiều quốc gia đánh giá là mơ hồ và cần phải hủy bỏ.
Gần đây nhất là trường hợp báo Pháp luật và Xã hội bị khởi tố liên quan đến một bài viết về các những khuất tất trong các doanh nghiệp thuộc Bộ Công an, nhưng Hội nhà báo Việt Nam đã tuyệt đối im lặng. Hay có thể hiểu công cuộc chống tham nhũng sẽ có thể nhào xuống vực thẳm nếu toàn bộ báo chí nhà nước bị bịt miệng ?
Nếu Hội Nhà báo Việt Nam hoạt động theo cách “báo chí trùm mền” và thỏa hiệp cao cấp như thế thì hội đoàn này làm sao có thể đại diện cho hơn 17.000 nhà báo có thẻ, cho một con số gấp đôi như thế người viết báo không có thẻ, hay bảo vệ cho những nhà báo bị xâm hại được?
Đây chính là nguyên do sâu sắc. IJAVN sinh ra là nhằm cải thiện những gì mà thực tế báo chí chưa được cải thiện, hoặc chẳng có hy vọng gì được cải thiện. Là một tổ chức dân sự độc lập nằm trong xã hội dân sự Việt Nam, IJAVN phải mang tính cách độc lập trong hành động của mình. Đó là lý do vì sao IJAVN phải đặc biệt độc lập với Hội Nhà báo Việt Nam về quan điểm, nội dung hoạt động, nhân sự điều hành và tài chính.
RFI : Quan điểm độc lập của IJAVN được thể hiện như thế nào?
Nói lên sự thật ! Quan điểm đầu tiên là phải nói sự thật. Cần thay đổi não trạng khi định nghĩa về các vấn đề chính trị – xã hội. Với tư cách là một tổ chức dân sự độc lập, tất nhiên IJAVN phải giữ tính cách khách quan và tôn trọng tuyệt đối tinh thần đa nguyên, trong đó có đa nguyên chính trị.
Vì lẽ đó, tất cả những biểu hiện can thiệp vào hoạt động báo chí bằng lối chỉ đạo và định hướng một chiều, độc đoán đều không phù hợp với đường lối của IJAVN. IJAVN sinh ra không phải để trùm chăn mà để phản biện đối với những chính sách và hành vi bất công của chính quyền, với mục tiêu cuối cùng là làm cho xã hội thanh sạch và dân chủ hơn.
RFI : Nhưng lâu nay chính quyền Việt Nam vẫn tỏ ra khó chấp nhận thậm chí dị ứng với những tiếng nói phản biện, có thể họ vẫn cho Hội Nhà báo Độc lập là một tổ chức đối lập?
Nếu lòng họ không đủ trong sáng và tiến bộ, thì hiển nhiên họ luôn coi chúng tôi là những kẻ đối lập và cần phải bị loại trừ. Gần đây trên báo Quân Đội Nhân Dân lại có một bài viết nhắc lại về “cần cảnh giác với các hội đoàn dân sự”, trong đó đề cập đến tổ chức hội nhà báo độc lập và lại đặt câu hỏi không khác trước đây là “độc lập hay đối lập?”. Tôi cho rằng đó là một câu hỏi vừa bảo thủ vừa ấu trĩ và chẳng thể thuyết phục được nhiều người, trong bối cảnh sau gần bốn chục năm từ năm 1975, hậu quả mà thể chế chính trị một đảng gây ra cho xã hội đã khủng khiếp đến thế nào.
Là một nhà báo đã từng viết phản biện cho nhiều tờ báo nhà nước như Vietnamnet, Thanh Niên, Tầm Nhìn…, tôi biết rằng có đến 90-95% người viết báo hiện nay chẳng thích thú gì với chính sách can dự tự do thông tin của các cơ quan tuyên giáo và quản lý báo chí, và ít nhất 2/3 trong số họ mang phản ứng ngấm ngầm đối với chính sách rào cản tự do thông tin như thế. Tuy nhiên những người này, vì nhiều lý do tế nhị, vẫn phải im lặng.
Còn nếu đã sinh ra IJAVN thì chúng tôi sẽ cố gắng làm đúng chức năng của xã hội dân sự, nghĩa là cầu thị, tôn trọng đa nguyên và phản biện, tác động nhằm điều chỉnh hoặc thay đổi chính sách. Chính sách và hành vi của Nhà nước càng bất công và sai lầm, mức độ phản biện của báo chí độc lập càng cao và mức độ thông tin cho cộng đồng quốc tế càng lớn.
Nhưng nếu chính quyền có được những chính sách và hành động gần gũi với lợi ích của xã hội và đại đa số người dân, đặc biệt là người nghèo, tại sao những tổ chức dân sự độc lập như IJAVN lại phải phản đối? Ngược lại, khi đó chúng tôi sẽ đồng thuận với Nhà nước và thậm chí trong một chừng mực nào đó còn ủng hộ cả những chính khách có đường lối cải cách và tiến bộ xã hội.
Với tinh thần và quan điểm hành xử như vậy của IJAVN, không ai có thể quy chụp chúng tôi là tổ chức đối lập hay đối kháng chính trị, vì như thế sẽ trái ngược lương tâm nhân loại, phản bác tất cả những điều khoản trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết, đồng thời trái luôn với chính Hiến pháp Việt Nam.
RFI : Vậy IJAVN sẽ làm thế nào để có tiếng nói phản biện đúng nghĩa?
Muốn có tiếng nói phản biện thì cần có phương tiện chuyển tải tinh thần và nội dung phản biện. Chúng tôi sẽ xây dựng những diễn đàn cho người viết báo và cả những người không viết báo nhưng quan tâm đến tình cảnh đất nước và hoạt động thực chất của IJAVN. Nhưng khác với hoạt động trước đây của xã hội dân sự chủ yếu diễn ra trên mạng, diễn đàn của IJAVN sẽ hướng đến tự do ngôn luận và tự do báo chí bằng hình thức offline, nghĩa là diễn ra ngoài đời.
Song song với các diễn đàn này, chúng tôi sẽ cố gắng xây dựng một trang báo, được xem là cơ quan ngôn luận của IJAVN, nhằm chuyển tải tinh thần phản biện đến độc giả và chính quyền. Trong mục tiêu kỳ vọng của chúng tôi, trang báo này trong 10 năm tới phải cố gắng vươn tới một đẳng cấp quốc tế trong khu vực Đông Nam Á. Chẳng hạn như có thể so sánh với tờ Bangkok Post của Thái Lan, hay hơn nữa là tờ Straits Times của Singapore. Còn triển vọng nhất thì phải so sánh được với tờ Le Monde của Pháp.
RFI : Như vậy liệu có tham vọng lắm hay không, trong khi hiện thời lực lượng người viết báo độc lập ở Việt Nam còn rẩt mỏng, và số người được coi là nhà báo thực thụ có lẽ cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bên cạnh đó, liệu những thành viên ban đầu của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam và những thành viên sau này có đáp ứng được tiêu chí nhà báo hay không ?
Đây chính là lý do mà chúng tôi băn khoăn khi xây dựng tiêu chí để mọi người tham gia vào IJAVN. Vì nếu xét theo đúng tiêu chuẩn một nhà báo thực thụ thì phải có ít nhất một số tác phẩm báo chí trên hệ thống truyền thông nhà nước, truyền thông xã hội hoặc truyền thông quốc tế, đồng thời phải có thâm niên hoạt động trong nghề báo. Chưa kể đến việc phải có thẻ nhà báo nếu xét theo tiêu chuẩn của Bộ Thông tin và Truyền thông. Tất nhiên sẽ chỉ có một ít người thỏa mãn được những tiêu chuẩn này.
Chỉ có điều, với giới nhà báo tự do thuộc truyền thông xã hội thì không cần tính tới tiêu chí phải có thẻ nhà báo, mà theo thông lệ quốc tế, chỉ cần dựa vào số lượng bài viết và đạt được uy tín người viết báo. Vì thế trước mắt chúng tôi không quá cầu toàn về việc tất cả các thành viên của IJAVN đều phải là nhà báo theo đúng nghĩa của từ này. Hãy xem các thành viên, không phân biệt thâm niên và uy tín xã hội, đều là người viết báo. Cách nhìn này cũng tương tự đối với các hội đoàn dân sự còn khá thiếu chuyên nghiệp trong một xã hội dân sự còn sơ khai ở Việt Nam.
Nhưng tính chuyên nghiệp phải bắt nguồn từ việc tổ chức lại các hoạt động sơ khai. IJAVN sẽ hướng đến mục tiêu trở thành một nghiệp đoàn báo chí độc lập và mang tính chuyên nghiệp. Phần lớn những tay viết trẻ từ giới blogger và cả facebooker hiện nay sẽ cần được đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước để có thể trở thành những nhà báo chuyên nghiệp trong tương lai không xa.
Ngoài ra, chúng tôi cũng hy vọng sẽ có một tỉ lệ nào đó trong lực lượng báo chí nhà nước sẽ cùng tham gia với chúng tôi trong tương lai gần, khi diễn ra làn sóng giao thoa giữa báo chí “lề phải” và “lề trái” với những tín hiệu đang bắt đầu xuất hiện. Đó là những nhà báo và cộng tác viên báo chí có chuyên môn và muốn thể hiện tiếng nói độc lập, muốn nói lên sự thật, muốn cùng tham gia xây đóng góp cho diễn đàn độc lập của những người viết báo ở Việt Nam. Chẳng lẽ trong 17.000 nhà báo có thẻ ở Việt Nam, không có lấy 1% số đó có năng lực viết báo và có thể còn viết báo quốc tế hay sao?
RFI: Vấn đề không chỉ là năng lực mà có lẽ còn là lòng can đảm nữa. Trong làng báo nhà nước hiện nay thường là người viết đều biết cách tự kiểm duyệt. Bên cạnh đó, ở Việt Nam các nhà báo thường được xã hội trọng vọng, có được một số đặc quyền. Liệu người ta có thể mạo hiểm để tham gia một tổ chức ngoài Nhà nước hay không ?
Đúng là cần lòng can đảm. Đây là một tiêu chí của tổ chức Phóng viên Không biên giới và của báo chí tự do quốc tế đặt ra đối với các nhà báo quốc tế, đặc biệt là những phóng viên chiến trường. Trên cả chuyên môn, đó là lòng can đảm, nhưng ở Việt Nam có lẽ vẫn còn là điều hơi xa xỉ. Nỗi sợ hãi vẫn còn bị đè nén trong từng con người, trong tư tưởng, và người ta vẫn thường ví von nỗi sợ hãi đó nằm dưới một vòng kim cô kìm tỏa.
Đó chính là vòng kim cô về tư tưởng, với “siêu Tổng biên tập” là Ban Tuyên giáo Trung ương và các Ban Tuyên giáo tỉnh, thành. Các cơ quan quản lý báo chí đang gò bó, hạn chế quyền tự do sáng tác của rất nhiều phóng viên trong số các nhà báo có thẻ ở Việt Nam. Đây chính là rào cản vô cùng lớn mà các nhà báo cũng như các cộng tác viên báo chí chưa có thẻ ở Việt Nam cần phải vượt qua, nếu muốn hướng tới một sự tự do trong thể hiện quan điểm và tự do biểu đạt.
RFI : Lúc nãy anh có so sánh với các hội đoàn dân sự, nhưng nghề báo cần có năng khiếu và đạo đức nghề nghiệp, nên đây là một tổ chức nghề nghiệp chứ không phải một tổ chức như Mặt trận Tổ quốc hay phong trào dân chủ. Nếu những tiêu chí được mở rộng, liệu có thể dẫn đến việc lạm dụng?
Tất nhiên là không bao giờ chúng tôi muốn Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam trở thành một tổ chức “Mặt trận” theo nghĩa ôm đồm tất cả các thành phần, đối tượng. Trên hết, đây là một tổ chức nghề nghiệp, và như vậy phải có tiêu chí nghề nghiệp của nó. Vấn đề chuyên môn như vừa nêu bắt đầu từ năng khiếu, và sau đó là lao động nghề nghiệp báo chí.
Một thực trạng đặt ra đối với giới báo chí Việt Nam là tại sao cho tới giờ những bài viết trên báo chí quốc tế của giới truyền thông Việt Nam hầu như vắng bóng. Và nếu có xuất hiện chỉ là một vài bài viết của giới truyền thông xã hội, hay còn gọi nôm na là truyền thông “lề dân” mà thôi.
Như vậy khi muốn xây dựng một nền báo chí độc lập chuyên nghiệp thì phải có tờ báo độc lập,và như vậy phải có những cây viết độc lập chuyên nghiệp, có nghĩa là phải đào tạo. Nhưng đào tạo không thôi thì chưa đủ, ngay trước mắt cần có những cây viết từ “lề phải” thâm nhập vào “lề trái”, có một sự giao thoa với nhau. Đồng thời phải đặt ra những tiêu chuẩn để xét duyệt đối với những hội viên mới của Hội Nhà báo Độc lập trong thời gian sắp tới. Không ôm đồm, dàn trải mà sẽ phải có những tiêu chí phân loại lọc lựa chặt chẽ để thấy được năng lực làm báo.
RFI : Về vấn đề đào tạo, anh cũng biết là các trường báo chí ở Việt Nam hàng năm cho ra rất nhiều cử nhân báo chí, nhưng số người trở thành nhà báo thực thụ không có bao nhiêu…
Tôi cũng có thời gian phỏng vấn các sinh viên tốt nghiệp khoa báo chí, cách đây hai mươi năm rồi. Và tỉ lệ mà tôi chọn được lúc đó là 5%, có nghĩa là 20 người chỉ chọn được một người. Sau này tôi nghe nói là số người chọn được còn thấp hơn nữa. Đó là thực trạng trong việc đào tạo về báo chí ở Việt Nam hiện nay. Thành thử tôi cũng không quá kỳ vọng về việc đào tạo những blogger và facebooker trở thành các nhà báo chuyên nghiệp có thể thành công một cách dễ dàng, mà phải mất rất nhiều thời gian. Thậm chí có thể cần từ 10 tới 20 năm để đào tạo một thế hệ làm báo.
Đây là một vấn đề cần tới sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới có chuyên môn về báo chí, vì họ đã có kinh nghiệm rồi. Trong thời gian sắp tới nếu có điều kiện chúng tôi sẽ thu xếp để có mối liên kết, hợp tác với một số tổ chức phi chính phủ, để có thể gởi một số cây viết trẻ có năng khiếu ra nước ngoài đào tạo, thậm chí là những người đang viết báo ở Việt Nam để đào tạo lại. Như vậy mới có thể hấp thu tiến bộ của báo chí thế giới để nâng cấp cho nền báo chí độc lập tại Việt Nam.
RFI : Có nghĩa là IJAVN có đặt nặng quan hệ với các tổ chức quốc tế về nghề báo?
Tất nhiên đó là một kênh quan hệ không thể thiếu, có thể nói là chất xúc tác chính đối với Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam. Và đây cũng là một ưu thế của IJAVN so với mối quan hệ quốc tế quá đơn điệu và chủ yếu thiên về hình thức từ trước tới nay của Hội Nhà báo Việt Nam. Xin lưu ý rằng mặc dù chỉ tập hợp đa số những tay viết không chuyên, nhưng giới truyền thông xã hội ở Việt Nam, chứ không phải hơn 800 tờ báo của nhà nước, từ ít nhất năm 2011 đến nay đã trở thành nhân tố chính trong việc chuyển tải các thông tin, tình hình và loại bài phân tích, nhận định trong nước ra cộng đồng quốc tế.
Sau khi IJAVN hình thành, chúng tôi sẽ bắt tay ngay vào việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ với những tổ chức phi chính phủ quốc tế về báo chí như Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF), Tổ chức Bảo vệ Nhà báo Quốc tế (CPJ), Tổ chức Freeedom House…, cùng một số tờ báo quốc tế có uy tín. Và tất nhiên, những nhà báo nhà nước có thể tham gia vào IJAVN trong thời gian tới sẽ có điều kiện để giao lưu và học hỏi nhiều hơn từ báo giới quốc tế.
Cũng nhân việc ra đời của IJAVN, chúng tôi xin chuyển đến một số chính phủ quan tâm đến hiện tình dân chủ ở Việt Nam như Hoa Kỳ, Canada, Liên minh châu Âu, các nước Bắc Âu, các tổ chức phi chính phủ như RSF, CPJ, Freedom House, Văn bút Quốc tế và các cơ quan báo đài quốc tế như RFI, VOA, BBC, RFA cùng báo đài Việt ngữ hải ngoại… lời cám ơn của giới truyền thông xã hội Việt Nam về sự hỗ trợ và bảo vệ của họ đối với các nhà báo đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền phải chịu rủi ro và thiệt thòi trong những năm qua.
RFI : Trong điều lệ hoạt động của IJAVN có một đoạn gây thắc mắc: “Trong trường hợp vì lý do biến cố hoặc bất khả kháng mà Chủ tịch Hội không thể điều hành, Phó chủ tịch thường trực Hội sẽ đảm nhiệm công tác điều hành Hội…”. Nội dung này cần được hiểu một cách bình thường hay còn vì lý do tế nhị nào khác?
À, đó là phương án “Người thay thế” của IJAVN. Mọi người đều biết hình thành một tổ chức về tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không dễ dàng. Vào năm 2009, chỉ một tổ chức dân sự cấp câu lạc bộ về báo chí tự do của nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải mà còn bị chính quyền khép vào tội “phản nghịch”, thì có thể hiểu vấn đề của IJAV giờ đây là phức tạp hơn nhiều.
Còn hiện nay, dù tình hình nhân quyền đã khả quan hơn so với thời Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, những nhà báo độc lập vẫn luôn phải phòng ngừa tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Tức là họ sẽ bị chính quyền quy chụp chính trị và bị bắt bớ, cho dù việc thành lập IJAVN là hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Nhà nước Việt Nam tham gia ký kết vào năm 1982, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam gia nhập thành viên vào năm 2013, và với chính Hiến pháp Việt Nam.
Nếu tình thế đó xảy ra, chúng tôi phải sắp sẵn phương án “Người thay thế” để duy trì sự tồn tại của IJAVN. Chúng tôi đều ý thức rất nặng lòng rằng không thể có tự do báo chí nếu không có tự do cá nhân, và ngược lại.
RFI : Xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam vừa được thành lập, đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ.
_______
Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.


Báo TQ xuyên tạc, đẩy hết trách nhiệm cho Thủ tướng Việt Nam

Đông Bình

(GDVN) - Báo TQ tuyên truyền xuyên tạc rằng chiến tranh ở Biển Đông hay không nằm trong tay Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.


Trung Quốc chủ động điều tàu đâm chìm tàu cá Việt Nam, thậm chí ngăn cản Việt Nam cứu ngư dân của tàu cá này - đây là một hành động khủng bố nhà nước, rất vô nhân đạo, không thể chấp nhận được.
Trang mạng “Tiền Thiêm” (Tầm nhìn, qianzhan.com) Trung Quốc ngày 5 tháng 7 có bài viết tuyên truyền tiếp tục luận điệu xuyên tạc, lừa đảo thường thấy của truyền thông Trung Quốc, cho rằng, Philippines và Việt Nam trước sau “gây phiền phức” cho Trung Quốc ở Biển Đông. Philippines bớt phóng túng một chút, còn chưa đem lại cơ hội cho Trung Quốc “thở” thì Việt Nam lại “thuận thế khiêu khích”.
Bài báo cho rằng, “xung đột Hoàng Sa” giữa Trung-Việt đã kéo dài hơn 2 tháng – thực ra là Trung Quốc thực hiện công cuộc xâm lược vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, bài báo có nhắc đến phun vòi rồng, đâm chìm tàu cá, bắt giữ ngư dân (đều do Trung Quốc làm), và cho rằng hai bên Trung Quốc và Việt Nam đều không có ý định nhượng bộ, xuyên tạc rằng Việt Nam dám “xông vào lãnh hải Trung Quốc”, “không chút sợ hãi Trung Quốc”.
Theo bài báo, Việt Nam như người chạy tiếp sức với Philippines để “gây hấn” với Trung Quốc, Việt Nam “đi con đường cũ” của Philippines, nhưng Việt Nam “cứng” (cứng rắn) hơn Philippines, quyết tâm “đối đầu” (để thực thi pháp luật) cũng kiên quyết hơn.
Bài báo tuyên truyền vu vạ nực cười cho rằng, trong quá trình đối phó với Việt Nam, Trung Quốc đã khó thoát được hoàn cảnh khó xử “nước lớn bị nước nhỏ bắt cóc”, rằng, bất cứ Trung Quốc làm gì ở Biển Đông hay Việt Nam chủ động “khiêu khích, gây sự” (chấp pháp), dư luận quốc tế đều đứng về phía Việt Nam (!).
Trung Quốc định đâm chìm tàu kiểm ngư Việt Nam ở vùng biển chủ quyền của Việt Nam - một hành động khủng bố đặc sắc Trung Quốc, phục vụ cho ảo tưởng "giấc mơ Trung Quốc" trên Biển Đông.
Theo tuyên truyền xuyên tạc của bài báo, Trung Quốc nếu thể hiện cứng rắn chắc chắn sẽ bị Mỹ và Nhật Bản cầm lấy “quả ớt cay”, tuyên truyền mối đe dọa từ Trung Quốc, nhưng bài báo nói rằng “Trung Quốc là nước lớn, không thể bị nước nhỏ dắt mũi, tùy ý để các nước như Việt Nam gây sóng gió ở Biển Đông”.
Bài báo tiếp tục đổ tội cho người khác, rằng, ưu thế của nước nhỏ ở chỗ, giỏi “ngụy trang” mình trở thành hình tượng “kẻ yếu bị ăn hiếp”, điều này làm cho Trung Quốc “bị động”, theo đó, bài báo đẩy trách nhiệm về phía Việt Nam cho rằng “quyền quyết định tái chiến” (tiếp tục chiến tranh) ở Biển Đông cũng được Việt Nam nắm chắc.
Nhưng, bài báo thừa nhận một lý do để Trung Quốc ngông cuồng gây hấn ở Biển Đông, rằng, nếu Trung Quốc không cứng rắn trong “vấn đề chủ quyền” (ăn cướp biển đảo của Việt Nam), thì sẽ không thể làm dịu thái độ bất mãn ở trong nước. Trung Quốc và Việt Nam tiếp tục tiến hành “khẩu chiến”, “vòi rồng chiến” (tàu Việt Nam không có vòi rồng) chỉ có thể là “kế tạm thời thích nghi”.
Bài báo đẩy quả bóng, xuyên tạc về phía Việt Nam cho rằng, khả năng Trung Quốc và Việt Nam có tiếp tục nổ ra chiến tranh ở Biển Đông hay không nằm trong tay Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. 
Thái độ của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông ngày càng cứng rắn, cộng với đàm phán ngoại giao của các bên rơi vào cục diện bế tắc “ăn miếng trả miếng”, xung đột trên biển có thể xuất hiện sai lầm chí tử, làm cho “tranh chấp Biển Đông” phức tạp xuất hiện phương hướng nguy cơ mới tiềm tàng.
Trung Quốc cho tàu chiến xâm lược vùng biển chủ quyền của Việt Nam
Thực ra, chỉ có Trung Quốc nhảy vào tranh chấp, nhảy vào xâm lược lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam và các nước khác ở Biển Đông, chứ bản thân Biển Đông trước đây vốn không có tranh chấp. Hơn nữa, Trung Quốc khước từ đàm phán ngoại giao, trong khi Việt Nam mở rộng cánh cửa đối thoại. Biển Đông xảy ra tình hình thế nào đều do Trung Quốc chủ động gây hấn, khiêu khích mà thôi.
Bài báo gắp lửa bỏ tay người, cho rằng, giữa Trung-Việt có thể bùng phát chiến tranh quy mô lớn thực sự ở Biển Đông bất cứ lúc nào, cuộc chiến giữa Trung-Việt ở Biển Đông phải chăng xuất hiện sự chuyển ngoặt, phải chăng thực sự phải dùng vũ lực, hoàn toàn tùy thuộc vào sự lựa chọn của Việt Nam. Trung Quốc tuy “quyết tâm, kiên quyết bảo vệ (xâm lược) chủ quyền quốc gia (nước khác)”, nhưng Trung Quốc sẽ “không nổ phát súng đầu tiên” (?).
Bài báo cho rằng, nếu Việt Nam dám nổ phát súng đầu tiên thì Trung Quốc và Việt Nam sẽ lại nổ ra chiến tranh trên biển, do đó, bài báo đẩy quả bóng về phía Việt Nam, rằng cuộc chiến nếu có nổ ra hay không tùy thuộc vào Việt Nam.
Bài báo dẫn báo đảng Trung Quốc – tờ “Nhân Dân nhật báo” phiên bản hải ngoại gần đây cũng dùng luận điệu xuyên tạc, vu cáo, lăng nhục cho rằng: “Để cướp chủ quyền Hoàng Sa của Trung Quốc, Việt Nam đã đi đến bước giở mọi thủ đoạn. Cố tình để bản thân rơi vào nguy hiểm để tạo ra sự cố, đây là thủ đoạn lớn quen dùng của Việt Nam”.
Trung Quốc tập trung triển khai lực lượng quân sự ở Biển Đông
Bài báo này đã dùng nhiều từ ngữ chửi rủa kiểu đầu đường xó chợ như: “cướp, giở mọi thủ đoạn, gây sự cố, quấy rối cường độ mạnh, ý đồ nham hiểm, để ngoài tai, ngày càng táo tợn” để vu vạ cho Việt Nam, qua đây, Trung Quốc muốn đổi trắng thay đen, hy vọng được thế giới hiểu, hy vọng có thể ép Việt Nam với luận điệu khó chấp nhận là hy vọng“sáng suốt quay đầu”. 

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

Trằn trọc tháng bảy


 | Tác giả: 

Tác giả Hà Sĩ Phu
Tác giả Hà Sĩ Phu
Khoa học cho biết trong không gian luôn có những sóng vô hình tác động vào cơ thể con người làm cho mình bỗng nhiên thay đổi sinh hoạt, thay đổi tính tình, cảm xúc. Đã hai tháng nay, thềm lục địa của nước mình bị cái giàn khoan khổng lồ của của tên cướp biển cắm vào trúng long mạch của nòi giống Việt, chẳng biết có phải vì thế mà khiến cho nhiều người Việt mình ăn ngủ không yên, hằng đêm thắc thỏm, cứ thắp nhang lên bàn thờ là thấy hình ma quỷ hiện về, lo nghĩ mung lung, đêm nằm thường sinh ác mộng. Tôi ngẫm từ cá nhân mình thì biết. Xin kể với bạn bè những suy nghĩ mung lung ấy của mình thường bất chợt hiện về trong giấc ngủ. Tản mạn đủ điều, không mạch lạc.
1. Ác mộng 
Cứ lơ mơ ngủ là hiện ra rõ mồn một cảnh một gia đình cự phách bỗng dưng tan tác như một lũ ăn mày. Tổ tiên họ để lại cho con cháu một cơ ngơi đồ sộ đủ làm ăn no ấm đến muôn đời. Chẳng ngờ thằng anh cả say mộng gia trưởng, hão huyền, lừa đàn em để lén đi đánh bạc với lão hàng xóm tinh quái, bị thua bạc phải đem gán cả cái gia tài gấm vóc ấy, lại ngầm ký mấy bản giao kèo hẳn hoi.
Hốt hoảng sợ gia đình biết sẽ đánh đuổi ra đường, thằng thua bạc bèn nói khó với lão hàng xóm tìm cách lo liệu sao cho trót lọt. Hồi lâu bàn bạc, hai bên nghĩ ra một mẹo, không trao cả gia tài ngay một lúc mà cứ “bàn giao” từng phần, cho gặm dần như tằm ăn lá dâu, nay thuê khoảnh vườn này 50 năm, mai cho một bọn gia nhân sang làm nhà ở nhờ một góc, mốt cho thuyền bè sang đánh cá chung tại hồ, lại cho mấy con nô tỳ ăn ngủ với thằng anh cả ấy đến có con riêng…
Gia đình có phát hiện thì thằng anh cả mất nết ấy cứ dùng “quyền huynh thế huỵch” lấp liếm vài câu lấy lệ, cũng ra vẻ khoa chân múa tay phản đối lão hàng xóm cho qua chuyện, hứa hươu hứa vượn cốt sao gia đình không nổi giận, nổi khùng. Cứ thế chẳng mấy chốc cả gia tài đồ sộ rơi hết vào tay lão hàng xóm, còn gia đình thì “may mắn” được lão hàng xóm “tốt bụng” mở lượng hải hà cho lưu trú ở một góc vườn, con cháu đời đời được làm kẻ hầu người hạ cho lão hàng xóm tham lam tinh quái. Cả gia đình bất hạnh chỉ còn biết ngậm một nỗi căm hờn trong tủi nhục, chẳng biết trách mình ngu dại, lại thầm trách tổ tiên đã làm gì thất đức để sinh ra một thằng con trưởng vô phúc, bán cả cha ông…
Tỉnh dậy thấy mắt mình ươn ướt, chắc mắt già kèm nhèm nó thế, chứ chẳng lẽ lại vớ vẩn thương cái gia đình trong mộng, thế rồi mệt quá mà ngủ thiếp đi.
2. Ngộ độc hàng Tàu
Đấy là chuyện ngủ, giờ đến chuyện ăn. Một đất nước xưa nay rất trong lành mà bây giờ hằng ngày ăn gì cũng sợ độc, một thứ độc rất… Trung Quốc! Vợ tôi thường mua lê mua táo thắp nhang, những quả táo quả lê rất đẹp nhìn mà phát thèm, thế nhưng để quên ba tháng trên bàn thờ mà trông vẫn đẹp mã như không mới hoảng hồn chứ, bổ ra thấy quả thì rắn như đá, quả thì thối đen bên trong, không biết họ tẩm chất gì lạ thế, chỉ dân mình là khổ.
Nhưng đêm nằm nghĩ lại thấy người dân còn may, chứ lớn lao như Đảng ta mà xơi phải món vịt tiềm thuốc Bắc “Thập lục kim tự” (vịt đây là vịt Bắc Kinh chính hiệu) là biến thái ngay không cứu được nữa là.
Động lòng trắc ẩn, tôi nhập hồn Bút Tre, nhỏm dậy, bật đèn ghi vội vào nhật ký:
Ngộ độc là tại hướng (ba) đình
Cả làng ngộ độc, cớ chi mình kêu ca?
Đường đường như thể đảng Ta
Xơi phải mười sáu chữ, cũng biến ra… đảng Tàu!
Biết có bậc đại nhân cũng ngộ độc như mình, như có người “đồng bệnh tương lân” nên tấm lòng AQ cũng tự sướng đôi chút.
3. Ước gì mình nhầm
Viết thế rồi vẫn cứ áy náy, liệu mình nghĩ như thế có nhầm không, có quá không? Vẫn biết tình hình hiện nay, hai chữ “bán nước” thiên hạ đã nói, đã viết giăng giăng khắp nơi, đến nhà “Hồ Chí Minh học” Nguyễn Khắc Mai cũng đã công khai bảo cái công hàm của chính phủ Phạm Văn Đồng (tất nhiên dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch) là phản động, phản quốc rồi, nhưng thôi, cứ níu lấy hy vọng chút xíu, cứ đắm đuối, cứ mong sao những suy nghĩ của mình là nhầm lẫn thì đại phúc cho dân, theo kiểu “lạc quan vô tận” ấy mà. Trước đông người, ai nỡ buông một lời tuyệt vọng? Lạy trời cho những lời phê phán của mình là nhầm, nhầm vài phần trăm thôi cũng được.
Nhưng khốn nỗi, không gì chống nổi thực tế, những tin tức sáng nay (xem phần dưới) đã thêm một lần quyết định, cho thấy sự kết tội như thế chẳng những không nhầm, rất không nhầm, mà trái lại còn chưa tới, chưa ngang tầm với thực tế đồi bại không thể chối cãi. Cuộc đầu hàng và Hán hóa đã đi nhanh hơn sức mình tưởng tượng, vì được chuẩn bị quá lâu rồi.
4. Những tin tức sáng nay.
Tin thứ nhất là ảnh chụp bức công văn của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi các địa phương về 16 điều cần làm ngay để thực hiện theo ý kiến của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (xem tại đây, và tại đây). Trong đó có điều 1 “Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông”.
Và trong điều 2, Trung Quốc sẽ đào tạo các cán bộ đảng cho Việt Nam, cụ thể là “trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam“.
Tưởng Việt Nam đã cam tâm làm một tỉnh “Quảng Nam” của Trung Quốc, hóa ra không được thế, chỉ đáng là một địa phương trong vòng quản trị của tỉnh Quảng Đông thôi. Chẳng trách UV BCT Nguyễn Thiện Nhân cũng chỉ ở tầm nhảy múa với tỉnh Quảng Tây, thế cũng vinh dự chán! Hề hề, trước đây học sách thấy hai chữ “khuyển mã”, giờ mới hiểu nghĩa. Bình luận thêm nữa là thừa.
Tin thứ hai, một cán bộ khá cao cấp cho biết tinh thần chống xâm lược mới nhất của Trung ương cần được quán triệt là:
Một: Tận dụng mọi phương tiện truyền thông, mọi diễn đàn để tố cáo China, NHƯNG DỨT KHOÁT KHÔNG KIỆN.
Hai: Xác định Mỹ vẫn là kẻ thù lâu dài (của đảng) vì đi với Mỹ thì mất chế độ.
Ba: ĐẢNG RẤT THƯƠNG DÂN, có chiến tranh thì nhân dân sẽ khổ, nên đảng phải nhịn Trung Quốc hết mức, không để xảy ra chiến tranh tránh khổ cho dân.
Tuy đây chỉ là thông tin từ thư của bạn bè, nhưng đối chiếu với thực tế và theo kinh nghiệm cho biết những tin tức này là đáng tin cậy, một đảng viên tử tế không thể bịa ra những tin đang phổ biến trong đảng như thế này. Tin tức này gợi ra một số vấn đề mà tôi thường nghĩ tới nhưng chưa có dịp viết ra, xin đề cập đến ở phần sau.
5. Kiện hay không kiện?
Có ba vấn đề khác nhau:
- Về đường lưỡi bò chiếm 80% Biển Đông thì Trung Quốc vô lý hoàn toàn, Việt Nam dứt khoát phải cùng với các nước vừa kiện vừa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn như liên kết với Hoa Kỳ, lập liên minh phòng thủ Biển Đông, vân vân, Việt Nam không có lý do gì lảng tránh việc này.
- Về những giàn khoan ngang ngược, cũng giống như việc đường lưỡi bò nhưng phức tạp hơn vì ranh giới chồng chéo và cũng liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa, có thể phát sinh nhiều luận điểm, tuy nhiên vẫn phải kiện, và đừng quên nếu không có sức mạnh thực tế thì cũng không đẩy được chúng đi. Nói chung, việc kiện ra các tòa án quốc tế, dù hiệu quả ít hay nhiều vẫn phải tiến hành, để vạch rõ chính nghĩa, vì danh dự dân tộc hoặc tạo hồ sơ giải quyết sau này.
- Riêng Hoàng Sa (và có thể cả Trường Sa) thì khó khăn hơn nhiều, dân đã có kiến nghị yêu cầu nhà nước phải kiện Trung Quốc, nhưng nhà nước thì lưỡng lự, chập chờn, không chuẩn bị gì, bây giờ quyết định không kiện gì hết (?), mà chỉ tuyên truyền (chắc là để xoa dịu cho dân yên tâm) [theo thông tin mới nhất thì Thủ tướng đã giao các cơ quan củng cố hồ sơ để báo cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước cân nhắc việc đấu tranh pháp lý về Biển Đông; xem ở đây – BVN]! Ở đây có nhiều điều cần thảo luận.
Trước hết phải đau lòng thừa nhận rằng việc Hoàng Sa – Trường Sa nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc thì khả năng thua nhiều hơn thắng. Tại sao?
Đồng ý rằng về pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng (trả lời Bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó họ khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc) không có giá trị “mua bán”, vì người ta không thể bán cái không có trong tay mình, vì không có sự đồng thuận của chính phủ ở nửa nước miền Nam, hoặc vì chưa thông qua Quốc hội, vân vân.
Nhưng trách nhiệm của Công hàm Phạm Văn Đồng lại nguy hại ở ý nghĩa khác. Đối với Hoàng Sa – Trường Sa công hàm Phạm Văn Đồng tuy không có giá trị pháp lý của một giao kèo mua bán hay sang nhượng, nhưng có giá trị của một bản tuyên bố chính thức, minh định nhận thức và lập trường của chính phủ Việt Nam, để Trung Quốc và thế giới được rõ, rằng Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc (đã là của Trung Quốc thì đương nhiên không phải của Việt Nam, Việt Nam chúng tôi không liên quan gì đến các quần đảo đó!)
Một người khách quan đọc bản công hàm ấy ắt phải hiểu như thế. Nếu có kẻ nào còn mơ hồ tưởng lầm Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam thì hãy xem thêm các bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam sẽ rõ! Phạm Văn Đồng đã giúp Trung Quốc chu đáo đến thế là cùng.
Trong công hàm Phạm Văn Đồng không cần có nửa lời về Hoàng Sa – Trường Sa là đương nhiên, vì đã minh định Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc thì cũng như các đảo Bành Hồ, Trung Sa… chứ liên quan gì đến Việt Nam đâu mà phải đề cập? Đã của Trung Quốc, không phải của Việt Nam thì Trung Quốc cứ tự nhiên sử dụng, cần gì đến chuyện “mua bán” hay sang nhượng?
Một sự phủ định chủ quyền thản nhiên và sạch trơn như vậy còn tai hại hơn một giao kèo bán đất rất nhiều, vì nếu “bán” thì trước khi bán Hoàng Sa – Trường Sa vẫn còn là của Việt Nam, sau này còn có thể chuộc lại, nhưng khẳng định như Phạm Văn Đồng có nghĩa là từ trước chí sau Hoàng Sa – Trường Sa không liên quan gì đến Việt Nam cả. Chu đáo đến thế thì con cháu bây giờ hết chỗ cựa (nếu cãi lại sẽ sẽ phạm luật estoppels).
Là người Việt Nam dù với chính kiến nào, không ai muốn hải đảo nước mình rơi vào tay Trung Quốc, nhưng giải pháp “khôn ngoan” muốn hạ thấp trách nhiệm của công hàm Phạm Văn Đồng để vừa thoát khỏi ràng buộc với Trung Quốc mà vẫn bảo vệ được uy tín cho Đảng Cộng sản e rằng bất khả thi.
Bây giờ, sau nửa thế kỷ mới trưng các bản đồ lịch sử ra, xét về tình, thế giới có thể thông cảm, nhưng về lý, mình đã trói mình quá chặt thì cũng khó gỡ ra, ấy là chưa kể lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh.
Tự chối bỏ chủ quyền thì còn tai hại hơn bán chủ quyền. Vì thế, đối với Hoàng Sa – Trường Sa kiện thì cứ kiện, nhưng chỉ có thể giải quyết trong một giải pháp trọn gói, chống lại toàn bộ sự xâm lấn của Trung Quốc cả ở biển đảo và trên đất liền.
Thật vậy, việc xâm chiếm Việt Nam đâu chỉ giới hạn ngoài biển đảo? Nào ai biết đã có bao nhiêu văn bản ký kết tạo điều kiện cho Trung Quốc chiếm dần lãnh thổ Việt Nam, đi đôi với việc xâm lấn nhân sự vào các cấp lãnh đạo từ tỉnh huyện đến Trung ương? Muốn thoát khỏi cái ách Trung Quốc đã quàng rất nhiều vòng vào cổ dân tộc này, tức là muốn “Thoát Trung” chỉ có một con đường duy nhất là từ bỏ thể chế cũ một cách thật sự, để một nhà nước mới, một nhà nước dân chủ, mới có tư cách nhân danh nhân dân chối bỏ những ràng buộc mà chế độ cũ đã ký kết, phương hại đến đất đai, chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam.
6. Thoát Trung chủ yếu là thoát về chính trị, không phải văn hóa
Lịch sử đưa đẩy hai nước Việt Trung vào cùng một “đại gia đình Cộng sản” là tạo ra cơ hội bằng vàng, nhốt con thỏ và con sói vào cùng một chuồng thành hai anh em ruột, chị em ruột. Thế là toàn bộ chương trình dài hơi nhằm nô dịch Việt Nam, biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới của Trung Quốc được thiết kế trên cái nền Cộng sản, trong đó “quyền đảng” được nâng lên tối đa và “quyền dân” thực tế bị hạ xuống tối thiểu, khiến cho hai đảng cứ tự do làm việc ngầm với nhau, quyết định mọi việc trong quan hệ cá lớn nuốt cá bé, trong khi nhân dân bị đứng ngoài cuộc. Vậy đây là một cuộc cờ chính trị “vĩ đại”, yêu cầu thoát Trung chẳng qua là thoát khỏi sự kìm kẹp chính trị cộng sản khủng khiếp ấy.
Trong tiến trình ràng buộc có sử dụng sự ràng buộc kinh tế, ràng buộc tư tưởng, ràng buộc văn hóa – xã hội, nhưng tất cả chỉ là phương tiện nhằm cái đích nô dịch chính trị. Chính trị là cái nút thắt, cũng là nơi để chiếc chìa khóa mở ra. Nếu hiểu lý thuyết rằng văn hóa hoặc kinh tế là nền móng rồi dồn sức vào các lĩnh vực mênh mông là văn hóa hoặc kinh tế thì chỉ luẩn quẩn mãi trong rừng rậm không có lối ra, có khi gây tác dụng ngược, cuối cùng vẫn bị yếu tố chính trị thắt lại, vì chính trị nhanh tay hơn, ma mãnh hơn văn hóa và kinh tế rất nhiều.
Thật vậy, về văn hóa, ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với Việt Nam tuy có những điều bất lợi nhưng nhìn tổng thể cũng là điều bình thường xưa nay, trong đó có xấu có tốt, có thể điều chỉnh, có yếu tố đã trở thành sức mạnh của Việt Nam. Thế giới có khoảng 200 quốc gia nhưng con số những nền văn hóa lớn thì ít hơn rất nhiều, mỗi nền văn hóa lớn thường tỏa rộng ảnh hưởng ra các quốc gia xung quanh, tạo nên những vùng “địa văn hóa”, “cụm văn hóa” gồm nhiều quốc gia lân cận. Quan hệ quốc tế hiện nay làm cho ranh giới “địa văn hóa” mờ dần đi, ngày càng thâm nhập vào nhau một cách đa phương nên muốn dùng độc quyền văn hóa làm công cụ nô dịch cũng không dễ dàng như trước. Trái lại những giá trị văn hóa dù hình thành ở đâu cũng là thành quả chung của loài người để dùng chung như ta dùng lửa, dùng điện, dùng Internet vậy. Không có gì phải mặc cảm khi một quốc gia nằm trong cụm văn hóa Hy-La hay văn hóa Trung Hoa (chưa kể theo tác giả Hà Văn Thùy thì văn hóa Trung Hoa bắt nguồn từ Văn hóa Việt!).…
Mặt khác, vì xã hội luôn có hai thành phần tương sinh tương khắc là nhân dân và tầng lớp thống trị nên nền văn hóa nào cũng cấu thành bởi hai nhân tố xung khắc ấy, vừa có mặt nhân văn tích cực của nhân dân, lại có mặt phản dân chủ mà giới cầm quyền khéo dùng làm công cụ để nô dịch dân mình và nô dịch cả dân nước khác, đồng thời tất cả vẫn nằm trong dòng tiến hóa từ lạc hậu đến ngày một văn minh hơn. Khi du nhập những nét văn hóa tích cực luôn phải thanh lọc những yếu tố nô dịch tiêu cực hoặc không phù hợp với tập quán dân tộc mình. Điều này dân tộc Việt Nam đã làm, làm khá thành công nên sau 1000 năm Bắc thuộc mà vẫn không bị đồng hóa. Tóm lại, thái độ đối với văn hóa là sàng lọc, đồng hóa hoặc tẩy trừ từng phần chứ không nhất thiết phải xử lý trọn gói. Tấm gương biết sàng lọc văn hóa không ai bằng cụ Phan Châu Trinh, xuất thân Nho học, tiếp tận Âu Tây mà biết sàng lọc rất trúng, vừa chống “hủ Nho” vừa chống “hủ Âu” trở thành nhà dân chủ, nhà cách mạng đầu tiên của nước nhà [*]. Cụ chẳng vì chuộng Âu mà phải thoát Á, vì khi đã lệch về một phía thì dễ thiên vị, quên sàng lọc mà tôn sùng cả cái xấu của người ta.
Điều oái oăm với văn hóa Việt Nam là trong khi dòng chảy văn hóa đang từng bước tự hoàn thiện thì có sự du nhập “một nền văn hóa trọn gói” nặng tính ngoại lai và áp đặt, là “văn hóa vô sản” thực chất là “văn hóa cộng sản”, “văn hóa đảng”. Nói văn hóa Cộng sản có tính “trọn gói” vì nó tách biệt hẳn ra thành một khối, không kế thừa, dính vào đâu là nó hủy diệt các giá trị truyền thống ở đó, nên không có khả năng hòa đồng vào bất kỳ nền văn hóa nào. Vì bản chất là phi dân chủ nhưng lại nhân danh dân chủ nên văn hóa cộng sản cộng hưởng ngay với chất mị dân của chủ nghĩa thân dân phong kiến, mà thực chất là vương quyền áp đặt, tôn sùng minh quân, đồng thời làm mất gốc dân chủ và tương thân tương ái của văn hóa bản địa, thay bằng thứ tình yêu giai cấp vừa chật hẹp giữa con người lại vừa mở rộng phi lý vượt biên cương.
Chính nền chuyên chính độc đảng toàn trị Cộng sản đã làm cho quan hệ “quỳ lạy-xin cho” tiêu cực của văn hóa phong kiến trỗi dạy và làm tha hóa xã hội đến mức bệnh hoạn. Tôi hiểu đấy chính là lý do khiến nhà báo Lê Phú Khải phải kịch liệt phê phán thứ “văn hóa quỳ lạy” đang chế ngự xã hội. Một nét tiêu cực của văn hóa phong kiến như thế tưởng đã qua đi, nay gặp môi trường mới thích hợp lại nảy nở thành một tệ nạn, chứ đạo Nho chỉ khuyên người ta đứng thẳng, không khuất phục trước uy vũ (uy vũ bất năng khuất) và con người phải biết tự trọng thì người khác mới trọng mình (ngô tự trọng nhi hậu nhân trọng chi, ngô tự khinh nhi hậu nhân khinh chi), Khổng giáo không khuyên người ta quỳ lạy.
Văn hóa Khổng Mạnh vừa sinh ra Phan Châu Trinh rất dân chủ, vừa sinh ra tên vua Khải Định thích dân quỳ lạy. Cho nên Cụ Phan viết thư hạch tội vua Khải Định 7 điều, trong đó tội thứ nhất là quá tôn quân quyền, cậy quyền thế mà ép dân, tội thứ nhì là không công bằng và tội thứ ba chính là “Chuộng sự quỳ lạy”!
Ngày nay một lực lượng vũ trang ăn lương của dân mà coi dân như cỏ rác, ngang nhiên thách thức “chỉ biết còn Đảng còn mình”, tất nhiên nịnh trên mà nạt dưới, thì chắc chắn người đưa ra khẩu hiệu rất “quỳ lạy” đó không hề đọc sách Khổng Mạnh mà chỉ nhiễm “văn hóa Đảng” thôi.
Nhiều người dân vào đồn công an bị đánh đến phải quỳ lạy, nơi “quỳ lạy” ấy không hề có đạo Khổng, chỉ có “6 điều Bác dạy” (mặc dù lời dạy cũng có câu “với dân phải kính trọng, lễ phép”).
Thuở nước nhà sơ khai, các trí thức chịu ảnh hưởng đạo Nho và văn hóa Trung Hoa rất nhiều, nhưng những Giang Văn Minh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt đã dùng chính chữ Nho làm vũ khí chống lại Tàu, sức mạnh Nho giáo đã thành sức mạnh dân tộc. Trong khi Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc lại dùng chữ Nho để theo Tàu phản bội Tổ quốc, còn khối kẻ hàng Tàu bây giờ đâu có biết một chữ Nho bẻ làm đôi? Vậy hèn mạt hay anh hùng ít khi do nền văn hóa, chủ yếu do nhu cầu chính trị, vì chính trị gắn với quyền lợi và nhu cầu sinh tồn.
Ngay chuyện bây giờ, khi ta nói sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam phải lệ thuộc Tàu là do Ý thức hệ cộng sản thì cũng chỉ đúng một phần. Đâu có phải cứ hai nước cùng chung Ý thức hệ Cộng sản thì thôn tính nhau? Vấn đề là nước Cộng sản nhỏ muốn tiến hành chiến tranh, rồi lại muốn chống xu thế dân chủ để tiếp tục nắm quyền độc trị thì phải dựa vào nước Cộng sản lớn giúp đỡ, nước lớn vốn rắp tâm xâm lược nên sử dụng sự giúp đỡ làm cái bẫy để bắt Đảng Cộng sản nhỏ bán dần chủ quyền, mặc dù đến nay cả hai bên chẳng ai xây dựng chủ nghĩa Cộng sản gì hết, chẳng ai còn tin vào cái bánh vẽ “thế giới đại đồng”. Vậy bản chất sự lệ thuộc Tàu là do ràng buộc chính trị trong môi trường Cộng sản, như một hệ quả đau đớn của việc chọn con đường Cộng sản, chứ không phải do sự thấm nhuần Ý thức hệ. Ý thức hệ chỉ là yếu tố bắt nguồn lúc đầu. Những kẻ theo Tàu hiện nay là do nhu cầu chính trị, do quyền lợi chứ chẳng vì lý tưởng giai cấp vô sản gì hết.
Lại so sánh chế độ miền Bắc và chế độ miền Nam trước đây về hai mặt Thoát Trung và Khổng học. Miền Nam còn giữ Khổng học rất nhiều, từ sách vở đạo đức, đến quan hệ xã hội nhưng họ dứt khoát Thoát Trung, biểu hiện ở việc chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa năm 1974, và quy định một số nghề người Hoa không được làm để phòng người Tàu chi phối kinh tế và quốc phòng.
Trong khi miền Bắc khi đó bài trừ Khổng học, coi Khổng học là phong kiến phản động nên phá hết văn chỉ, đem câu đối làm cầu ao, chuồng lợn, đấu tố Nho học, thì lại ôm chân Tàu rất rõ, dập khuôn Tàu, phụ thuộc Tàu đến nỗi sinh ra nguy cơ Bắc thuộc hiện nay. Vậy không phải chống Khổng học thì Thoát Trung mà có khi ngược lại, vì nhiều nét của Khổng học đã được người Việt đồng hóa để thành vốn liếng văn hóa của chính người Việt.
Cuối cùng, xin cảm ơn việc khơi ra cuộc thảo luận Thoát Trung, đã huy động được sự đóng góp từ nhiều phía, làm cho một vấn đề rất hệ trọng được sáng ra, lần đầu tiên được đề cập một cách hệ thống, thiết tưởng là một sáng kiến đóng góp rất hữu ích cho công cuộc Thoát Trung hiện nay.
7. Nghĩ về mấy ngụy biện trong việc chống Tàu xâm lược
* Ngụy biện về đoàn kết và phân ly:
Như quy luật của muôn đời, sự đấu tranh để dân chủ hóa luôn luôn là cuộc đấu tranh giữa giới cai trị và giới bị trị, giữa chủ và thợ, nước nào cũng có, ở những mức độ khác nhau. Nhưng Đảng Cộng sản muốn phủ định, coi như cuộc đấu tranh ấy không có trong xã hội ưu việt này, nên dùng khẩu hiệu “ý Đảng lòng dân” để đúc hai khối “cai trị và bị cai trị” thành một khối đồng nhất (nhưng đầy mâu thuẫn bên trong). Dân mà “có ý kiến khác” tức tách khỏi khối đúc ấy thì không phải là dân, Đảng coi là kẻ xấu hay là địch đấy!
- Nay trước tình trạng bị nước Cộng sản lớn xâm lược đang xuất hiện ngụy biện: “Bây giờ phải tập trung chống xâm lược, cả nước phải một lòng, đứng dưới sự lãnh đạo mà chống giặc, trong nước mà còn đấu tranh với nhau là mắc mưu chia rẽ của phản động đấy!”. Lời hô hào nghe cảm động ghê, đoàn kết cả với kẻ nội xâm, nội gián sẵn sàng “mở cửa thành” cho giặc hả?
- Lập trường đúng đắn của Đảng ta là làm bạn với tất cả mọi người, không liên minh với nước này để chống lại nước kia! Nghe sao đạo đức quá, thế sao trước đây lại dựa hẳn vào Liên Xô – Trung Quốc để đánh “Mỹ-Ngụy”, sao bây giờ chỉ liên kết chiến lược toàn diện, thiết lập cả đường dây nóng với quân xâm lược, để đề phòng nhân dân ư?…
Ngụy biện này là để giải thích vì sao Việt Nam không liên minh chiến lược với Hoa Kỳ, nhưng nội bộ Đảng giải thích với nhau nếu liên minh với Hoa Kỳ thì mất Đảng! Vẫn biết nếu liên minh với Hoa Kỳ thì sẽ không mất nước, nhưng thà mất nước còn hơn là mất Đảng! Thế là rõ!
- Nhiều nhà nghiên cứu, bình luận cứ phát hiện “con đường cho Việt Nam”, “lối thoát cho Việt Nam”, “giải pháp tối ưu cho Việt Nam” mà không biết rằng bây giờ làm gì có “Việt Nam” như một khối thống nhất. Như ông Lê Hồng Hà nhận xét “Đảng bây giờ chỉ còn mỗi chức năng là cản trở sự phát triển của dân tộc”, vậy thì bài toán cho chính quyền Việt Nam và bài toán cho nhân dân Việt Nam là hai bài toán đáp số ngược nhau, đáp số tối ưu cho bên này sẽ là tai họa cho bên kia, làm gì còn khái niệm “Việt Nam” chung chung?
* Ngụy biện về cương và nhu
Bất đắc dĩ phải tuyên bố công khai mâu thuẫn với Trung Quốc (về lãnh hải thôi, còn những mâu thuẫn khác vẫn giấu biệt), nhưng không cho dân bộc lộ sự phẫn nộ, mà khuyên “phải bình tĩnh, chuyện lâu dài không nóng vội, mâu thuẫn như anh em trong nhà, mình phải chung sống lâu dài với nước bạn, bát nước đổ đi khó bốc lại, ta cần mềm dẻo giữ hòa bình để phát triển kinh tế…”.
Ai cũng biết cương quá hay nhu quá đều không tốt, nhưng lúc cần nhu lại cương, lúc cần cương lại nhu thì thật quái đản.
Có một danh ngôn “kẻ nào chấp nhận nhục nhã để tránh chiến tranh cuối cùng sẽ lãnh đủ cả hai thứ đó”. Có cứng rắn, không sợ chiến tranh mới tránh được chiến tranh. Chính sự hèn nhát là thủ phạm rước chiến tranh vào nhà! Còn tình nghĩa anh em ư, nó đập vào mặt, nó nhục mạ cả dân tộc, nó xâm lăng rành rành, nó tè vào cái bát nước hữu nghị, còn anh em nữa ư?
* Ngụy biện về lòng thương dân
Người ta đang giải thích phải chịu nhún nhường Tàu Cộng hết cỡ vì sợ đánh nhau thì nhân dân khổ! Chỉ thương dân thôi!
Ôi chao, cảm ơn! (Giá nói 50 năm trước đây thì hơn).
Sao một bảng thống kê về điều tra, chỉ xếp nhân dân Việt Nam thuộc loại hạnh phúc thứ nhì thế giới thôi nhỉ, chắc vì lúc ấy cơ quan điều tra chưa được “quán triệt” chủ trương rất cảm động này.
H. S. P. (2-7-2014). Đàn Chim Việt
——————————————————————————–
[*] “Nhân vật Phan Châu Trinh và những bài học cho hôm nay/ Sàng lọc và kết hợp văn hóa Đông Tây”: http://www.hasiphu.com/baivietmoi_12.html


   

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Thượng cấp Tầu Cộng đã ra chỉ lệnh, Thủ tướng hãy cẩn thận.

Thiên Hạ Luận
image

Báo chí – tờ Tuần báo Bắc Kinh của Tầu Cộng hôm nay đã chính thức tấn công vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bằng chỉ lệnh “ hữu nghị” và “đặt lợi ích quốc gia lên trên tất cả mọi thứ khác”. (nguyên văn: “trong khi những người ủng hộ Trung Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ hữu nghị Việt – Trung thì một số lãnh đạo cấp cao mà đại diện là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng” lại “đặt lợi ích quốc gia lên trên tất cả mọi thứ khác”.
Chỉ lệnh này thông báo rằng có “những người”, tức nhiều người – “ủng hộ Trung Quốc”, tức là có nhiều tay sai, mật thám cho Hán Tầu là người Việt đang nằm trong nội bộngười Việt, “nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ hữu nghị Việt – Trung”, tức bọn Việt gian sắt đá một lòng với thượng cấp Tầu Cộng, “ thì một số lãnh đạo cao cấp ở Việt Nam”, tức là có số ít, một nhúm người, “mà đứng đầu là thủ tướng Nguyên Tấn Dũng lại “đặt lợi ích quốc gia”, tức lợi ích của đất nước Việt Nam, “lên trên tất cả mọi thứ khác”, tức là có thứ khác quan trọng hơn cả lợi ích quốc gia.
Có thứ gì quan trọng hơn lợi ích quốc gia?
Nếu giàn khoan HD – 981 không hiện diện xâm lược ở biển Đông thì người Việt Nam không thể hiểu được cái quan trọng hơn lợi ích quốc gia là cái thứ gì. Nhờ có nó mà người Việt Nam bây giờ mới hiểu được cái quan trọng hơn lợi ích quốc gia là tình hữu nghị 4 tốt ,16 chữ vàng và thỏa thuận Thành Đô năm 1990 của những tên Việt gian, đại diện cho Cộng sản Việt Nam nhập nước Việt Nam vào nước của Tầu Cộng.
Các bạn cứ dò từng chữ mà xem mấy dòng chỉ lệnh trên có phản ảnh đúng nội dung Bà Đầm xòe vừa diễn giải ra không? Tôi tin không người Việt Nam yêu nước nào lại có thể hiểu khác mà được.
Đó là ý lệnh thứ nhất thượng cấp Tầu Cộng thông báo cho bọn Việt gian đang nằm tại Việt Nam.
Ý lệnh thứ hai tuy là nêu “một số” nhưng “chỉ mặt” đích danh chí có tên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Điều đó buộc những tên Việt gian phải hiểu, đó là một mật lệnh của thượng cấp ở Bắc Kinh ngầm ra lệnh cho bọn Việt gian đã đến lúc phải thanh toán Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tôi thật sự toát mồ hôi khi đọc mấy dòng này trên tờ Tuần báo Bắc Kinh. Tôi sợ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ bị bọn chúng hành thích. Tôi sợ những điều tiên tri của một người có tên là Trần Dần ( ông Trần Dần này sinh giờ Dần, ngày Dần, tháng Dần, năm Dần) hiện đang sống tại Mỹ cách đây bảy, hay tám năm đã từng tiên đoán: Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ bị Tầu Cộng ám sát năm 2014, sẽ thành hiện thực. Tất nhiên ông ta không cho biết, thủ tướng bị ám sát nhưng có chết hay không?
Với những diễn biến xâm lược ngày một leo thang của Tầu Cộng, với một thái độ rõ ràng trong bảo vệ lãnh thổ, chỉ trích tình hữu nghị “viễn vông” chỉ biến đất nước từng bước thành con mồi cho Tầu Cộng, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị Tầu Cộng đưa vào đích ngắm hạ sát là điều ai cũng có thể hiểu được.
- Vậy, nhân dân Việt Nam chúng ta phải làm gì?
+ Chúng ta phải sát cánh bên thủ tướng.
- Thủ tướng phải làm gì?
+ Thủ tướng phải cảnh giác tối cao bọn Việt gian; đồng thời kiên quyết , khôn khéo đẩy bọn chúng ra xa nơi ở, nơi làm việc, nơi Thủ tướng thường xuyên xuất hiện những kẻ mở mồm ra là hữu nghị, là quý trọng, kiên định 4 tốt 16 chữ vàng; nhanh mạnh hơn nữa trong đổi mới thế chế; nhanh mạnh hơn nữa trong xác lập quan hệ đối tác chiến lược, lập liên minh toàn diện với Mỹ, Nhật, Ấn Độ và những cường quốc dân chủ và kinh tế khác trên thế giới (trừ Tầu Cộng).
Bà Đầm xòe cho rằng, đó là cách Thủ tướng tránh bị Tầu Cộng ám sát hữu hiệu nhất. Hoặc giả Thủ tướng có bị áp sát nhưng sự sống của Thủ tướng thì mãi mãi vẫn còn.
Không có con đường thứ hai nào khác.
Nó là con đường sống duy nhất của Thủ tướng và dân tộc.
Bà Đầm Xòe
(badamxoevietnam2.wordpress.com)