Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

Phải công bố các “thỏa thuận ở Thành Đô” cho nhân dân biết!


Dân làm News . 05.08.2014


Nguyễn Đăng Quang     
clip_image002[5]

Cách đây 24 năm, ngày 3 và 4/9/1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Tham dự cuộc gặp,  phía TQ, dẫn đầu là Giang Trạch Dân – TBT Đảng CSTQ, và Lý Bằng – Thủ tướng Quốc vụ viện nước CHND Trung Hoa. Dẫn đầu đoàn VN là Nguyễn Văn Linh – TBT Đảng CSVN và Đỗ Mười, lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tức Thủ tướng Chính phủ) nước CHXHCN Việt Nam. Thành viên thứ ba của đoàn VN là Phạm Văn Đồng – Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng. Tháp tùng đoàn VN đến Thành Đô có 3 cán bộ cấp cao là Hồng Hà – Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Hoàng Bích Sơn – Trưởng Ban đối ngoại Trung ương và Đinh Nho Liêm – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Trên chuyên cơ đưa đoàn VN từ sân bay Nội Bài đi Thành Đô còn có cả Trương Đức Duy – Đại sứ đặc mệnh toàn quyền TQ tại VN. Song điều đặc biệt đáng chú ý là Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch không có tên trong danh sách tham dự cuộc họp này.
Trong cuộc gặp thượng đỉnh này tại Thành Đô, hai bên đã ký kết một văn bản thỏa thuận gọi là “Kỷ yếu Hội nghị” để chính thức bình thường hóa quan hệ hai nước và cùng nhau thực hiện những thỏa thuận vừa đạt được giữa lãnh đạo hai Đảng và hai Nhà nước. Cuộc gặp thượng đỉnh này cũng như nội dung thỏa thuận của Hội nghị Thành Đô từ đó cho đến nay vẫn luôn nằm trong bí mật và cho đến tận hôm nay – mặc dù 24 năm đã qua – nó vẫn chưa được chính thức công bố cho nhân dân VN cũng như các nước liên quan và cộng đồng quốc tế được biết!
Hội nghị Thành Đô diễn ra trong bối cảnh quốc tế như thế nào?
Trước hết không thể không nói là cuộc thảm sát Thiên An Môn tại Bắc Kinh ngày 4/6/1989. Gần 2 tháng trước đó, từ giữa tháng 4/1989, hàng ngày có hàng chục ngàn, có hôm lên đến cả trăm ngàn sinh viên và thanh niên thay nhau tổ chức biểu tình ngồi và nằm để chiếm quảng trường Thiên An Môn. Họ giương cao các khẩu hiệu chống tham nhũng, ủng hộ cải cách và đòi tự do, dân chủ. Với bản chất khát máu và phi nhân tính, thay vì đối thoại để có một giải pháp ôn hòa, nhà cầm quyền TQ đã sử dụng lực lượng quân đội với hàng trăm xe tăng mờ sáng ngày 4/6/1989 tràn vào quảng trường Thiên An Môn tàn sát dã man người biểu tình trong tay không một tấc sắt và là đồng bào ruột thịt của mình! Xe tăng nghiền nát hàng ngàn thanh niên sinh viên, máu chảy lênh láng khắp quảng trường! Cả thế giới bàng hoàng! Mỹ và phương Tây cùng các nước tiến bộ trên toàn thế giới đồng thanh lên án, tố cáo, trừng phạt và cô lập Trung Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản Trung Hoa kể từ khi thành lập (1949) đến nay chưa khi nào lại bị thế giới nguyền rủa và cô lập như lúc này. Đây là vết nhơ ngàn đời khó rửa đối với chính quyền cộng sản Trung Quốc!
Ngoài ra, một sự kiện lịch sử không thể không nói, đó là hàng loạt các ĐCS và hệ thống XHCN nối tiếp nhau tan rã và sụp đổ ở Đông Âu. Bắt đầu từ cuối năm 1989 cho đến đầu năm 1990, chế độ XHCN ở 6 nước cộng sản Đông Âu lần lượt và dồn dập sụp đổ: Đầu tiên là Ba Lan (6/1989), tiếp đến là Hungary (10/1989), rồi đến Đông Đức (11/1989), tiếp theo là Tiệp Khắc (12/1989), sau đó là Rumani (12/1989), và tiếp đến là Bulgary(1/1990). Muộn hơn là Albany (3/1991), rồi đến Nam Tư (6/1991) và cuối cùng là Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết tức Liên Xô (19/8/1991). Chỉ trước đấy không lâu, vào đầu tháng 10/1989, lãnh đạo các ĐCS và các nước XHCN “anh em” còn tụ tập nhau ở Berlin để cùng nhau tham dự Lễ kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức (7/10/1989) và bàn việc bảo vệ, giữ vững chế độ XHCN trên thế giới. Đoàn Việt Nam do TBT Nguyễn Văn Linh dẫn đầu sang Berlin tham dự lễ kỷ niệm này, nhưng chỉ đúng một tháng sau khi về đến Hà Nội thì bức tường Berlin đổ sụp. Erich  Honecker – TBT Đảng kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước CHDC Đức – bị lật đổ. Còn lãnh tụ Nikolai Ceaucescu của Đảng và Nhà nước Rumani, sau khi dự lễ kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi trở về Bucarest ông còn kịp tổ chức “thành công” Đại hội lần thứ 14  Đảng Cộng sản Rumani (cuối tháng 11/1989) và tất nhiên ông được bầu lại làm TBT thêm một nhiệm kỳ 5 năm nữa! Nhưng chỉ một tháng sau – ngày 20/12/1989 – khi vừa chân ướt chân ráo về đến thủ đô Bucarest sau 2 ngày đi thăm chính thức nước Cộng hòa Hồi giáo Iran thì Ceaucescu bị truy bắt, cả 2 vợ chồng phải chạy trốn khỏi thủ đô và sau đó đều bị bắt và bị một tòa án quân sự tuyên tử hình về tội diệt chủng và tham nhũng, rồi cả hai nhanh chóng bị mang ra hành quyết vào rạng sáng ngày 25/12/1989. Theo cuốn hồi ký “Hồi ức và suy nghĩ” của nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ thì Nikolai Ceaucescu “là người trong thời gian ở Berlin xem ra tâm đầu ý hợp với TBT Nguyễn Văn Linh trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp XHCN thế giới đang lâm nguy”. Nhiều nguồn tin khác còn nói chính trong lần gặp nhau ở Berlin này, hai vị lãnh đạo của Việt Nam và Rumani đã đồng ý là năm sau (1990) sẽ cùng đứng ra đồng tổ chức một cuộc Hội nghị toàn cầu các đảng cộng sản và công nhân nhằm xiết chặt đoàn kết và khẳng định xu thế tất thắng của Chủ nghĩa Xã hội trên phạm vi toàn thế giới! Những sự kiện dồn dập nói trên ở Đông Âu nối tiếp xảy ra chỉ trong vòng không đến một năm khiến TBT Nguyễn Văn Linh và Lãnh đạo Đảng VN bồn chồn và vô cùng lo lắng, đứng ngồi không yên!
Nắm bắt được tâm trạng hoảng hốt, lo lắng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN và biết chắc được lãnh đạo VN sẽ sẵn sàng nhân nhượng để khôi phục lại quan hệ với Đảng và Nhà nước với TQ nhằm có đồng minh và chỗ dựa trong việc bảo vệ Đảng và chế độ XHCN tại VN, Trung Nam Hải quyết định hành động! Đặng Tiểu Bình, Cố vấn tối cao kiêm Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCSTQ – kẻ đã xua 600.000 quân  tràn qua 6 tỉnh biên giới phía Bắc để xâm lược nước ta 10 năm trước  (tháng 2/1979 ) – cùng các lãnh đạo chóp bu khác ở Trung Nam Hải nhận định đây là cơ hội quí hơn vàng để  thực hiện quỷ kế chia rẽ, lừa gạt và phân hóa nội bộ VN nhằm đưa Ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN nằm trọn trong quỹ đạo phụ thuộc toàn diện vào Cộng sản Trung Quốc! Chúng đưa ra chiêu trò cực kỳ thâm hiểm là gợi ý tổ chức một cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo hai Đảng và Nhà nước để cải thiện và bình thường hóa quan hệ Việt Nam -Trung Quốc nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và bảo vệ CNXH ở mỗi nước! Cơ quan được giao thực hiện quỷ kế này không ai khác chính là Hoa Nam Tình báo. Cơ quan tình báo này thừa biết, nếu thông qua kênh ngoại giao chính thức là Bộ Ngoại giao thì chắc chắn quỷ kế này sẽ bị bại lộ và nhiều khả năng sẽ bất thành, bởi vì ở Bộ Ngoại giao có Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, Thứ trưởng Trần Quang Cơ và Trợ lý Ngoại trưởng Vũ Khoan là 3 nhà lãnh đạo rất am hiểu và luôn cảnh giác cao độ với mọi âm mưu, thủ đoạn của Trung Quốc. Do vậy phải tránh BNG và phải đi đường vòng. Đường vòng này đã được Hoa Nam Tình báo xác định từ trước là  Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Quốc phòng!
Trương Đức Duy (sinh năm 1930 tại Quảng Đông, là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền TQ tại VN từ tháng 4/1989 đến 3/1993, nói tiếng Việt giỏi như người Việt, người vốn không xa lạ gì với cơ quan an ninh VN) được giao trực tiếp thực hiện kế hoạch này. Chỉ chưa đầy hai tháng sau khi được cử giữ chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Việt Nam, Trương Đức Duy đã thực hiện một bước đi ngoạn mục là qua mặt và phớt lờ Bộ Ngoại giao, trực tiếp liên hệ và tiếp xúc với hai cơ quan nói trên của VN là nơi vốn Trương đã có sẵn các mối quan hệ đặc biệt từ khi ông ta còn là phiên dịch kiêm Bí thư thứ ba rồi thứ nhất Sứ quán TQ ở Hà nội 20 năm về trước. Trương Đức Duy đã được sắp xếp dễ dàng gặp Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh 3 lần trong vòng chưa đầy 3 tháng (trưa 6/6, chiều 20/8 và sáng 29/8/1989), gặp TBT Nguyễn Văn Linh 3 lần (ngày 5/6, tối 22/8 và chiều 29/8/1989). Những lần Trương đến Bộ Quốc phòng hay Ban Đối ngoại Trung ương gặp lãnh đạo VN, xe Trương thường không cắm cờ và đi vào cửa phụ, Trương không mang theo phiên dịch và thư ký ghi chép và ông ta cũng yêu cầu phía ta không bố trí phiên dịch và thư ký, những cuộc gặp đó chỉ có 2 người: 1 chủ và 1 khách!
Đương nhiên, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch không được biết trước những cuộc gặp này, mà chỉ được thông báo sau khi đã diễn ra, thậm chí có những cuộc gặp ông còn không được cho biết, mặc dù ông đang là Uỷ viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) kiêm Bộ trưởng Ngoại giao!
Nhớ lại, vào một tối đầu Thu 1987 tại New York, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch có nói riêng với người viết bài này khi ông dẫn đầu phái đoàn CHXHCN Việt Nam sang dự Khóa họp thứ 42 Đại hội đồng LHQ: “Họ công khai ra điều kiện cho lãnh đạo ta là “Nếu VN thực tâm muốn cải thiện và bình thường hóa quan hệ với TQ thì việc đầu tiên VN phải làm là loại bỏ Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch”.  Vâng, có lẽ tất cả các cán bộ đối ngoại ở BNG hoặc ở các cơ quan đại diện ngoại giao VN ở nước ngoài trong khoảng thời kỳ 1987-1990 đều được biết đòi hỏi cực kỳ ngang ngược và trịch thượng này của TQ! Nhiều cán bộ trung cao cấp của Bộ Ngoại giao hồi đó còn trao đổi ở chốn riêng tư với nhau: “Lần này thủ trưởng của chúng ta có lẽ khó thoát khỏi là “vật tế thần!”.  Tôi thật không ngờ và rất buồn là ngay sau Hội nghị Thành Đô, Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch – “kiến trúc sư của nền ngoại giao Việt Nam” – một chiến lược gia tài ba, một nhà lãnh đạo có kiến thức uyên thâm và tầm nhìn xa trông rộng, một nhà ngoại giao sắc sảo và quả quyết, người mà nhiều chính khách phương Tây rất khâm phục và kính nể, lại phải sớm rời khỏi mọi chức vụ (Ủy viên BCT, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao) và bị loại khỏi danh sách đề cử vào BCHTW khóa VII! Chỉ trước đấy không lâu, ngay đầu năm 1990, ông còn được dự kiến làm Thủ tướng nếu ông Võ Văn Kiệt lên làm Tổng Bí thư ở Đại hội VII.
Việc ông bị loại bỏ khỏi tất cả các chức vụ lãnh đạo Đảng và Nhà nước có phải là một trong các điều kiện mà TQ đã buộc ta phải chấp nhận ở Hội nghị Thành Đô hay không, là một điều không khó để chứng minh. Còn về câu nói  “Thế là một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu!” có phải là ý kiến nhận định và đánh giá về kết quả Hội nghị Thành Đô của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch hay không? Ông nói câu này khi nào, với ai và trong bối cảnh nào thì chưa thấy có nguồn tin nào khẳng định. Khi phải thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao ở tuổi tròn “thất thập” (1991), tuy bị sốc, nhưng sức khỏe về trí lực và thể lực của ông vẫn còn rất tốt. Ông vẫn được Bộ Chính trị giao công tác mới là chủ trì tổng kết công tác ngoại giao, nghiên cứu kinh tế thế giới và chiến lược đối ngoại cho đến khi ông mất (năm 1998). Chính trong thời gian này ông đã hoàn chỉnh cuốn hồi ký mà ông đã khởi bút viết ngay sau khi Hội nghị Paris về VN kết thúc (1973). Cuốn hồi ký này nói về  những năm tháng vinh quang, những khoảnh khắc bực tức, nóng giận và cay đắng trong cuộc đời 60 năm hoạt động cách mạng trong đó có 44 năm làm công tác ngoại giao của ông. Chắc chắn là nhiều bí mật đối ngoại của Nhà nước cũng như của riêng ông sẽ được “bật mí” một khi cuốn hồi ký này được công bố!
Gần 1/4 thế kỷ đã trôi qua kể từ Hội nghị Thành Đô, nhiều thành viên đoàn VN tham dự hội nghị này không còn nữa, nhưng hậu quả để lại của cuộc gặp này là khôn lường, gây ra những thiệt hại to lớn và nguy hiểm cho đất nước và nhân dân ta ở hầu hết các lĩnh vực: từ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, văn hóa – giáo dục, chủ quyền đất nước, chính trị nội bộ đến vấn đề an ninh quốc gia trên phạm vi toàn lãnh thổ, từ biên giới phía Bắc cho đến các tỉnh miền Tây Nam bộ, từ biển Đông vào đến các tỉnh ven biển và giáp với biên giới Lào và Campuchia, và đặc biệt là vùng Tây Nguyên chiến lược. Không thể thống kê hết những vấn đề nói trên, chỉ xin đề cập đến một vài sự việc nổi cộm sau:
1- Từ sau Hội nghị Thành Đô, cuộc chiến tranh xâm lược của TQ ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta (17/2/1979) không được nhắc đến nữa, thậm chí những hoạt động của người dân tưởng niệm và vinh danh các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến này hoặc các cuộc biểu tình yêu nước chống TQ xâm phạm biển đảo và sát hại ngư dân ta đều bị ngăn cấm và đàn áp.
Hơn 35 năm đã trôi qua, tại sao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chống xâm lược bành trướng phương Bắc này cũng như việc TQ dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974) và đảo Gạc Ma của ta ở Trường Sa (1988)  không được tổng kết và đưa vào lịch sử và sách giáo khoa để giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên và thanh niên ta?
2- Tại sao ta cho phép hoặc không ngăn chặn việc TQ thuê hàng trăm ngàn héc ta rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới chiến lược phía Bắc với thời hạn lâu dài 50-70 năm?
3- Một khu vực có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, rất nhạy cảm về mặt an ninh – quốc phòng là Tây Nguyên (Ai kiểm soát Tây Nguyên thì có thể khống chế được toàn bộ bán đảo Đông Dương!) thì TQ lại dễ dàng được phép đưa hàng ngàn công nhân vào đây để thực hiện dự án bauxite đầy nghi ngờ và tranh cãi không những về an ninh – quốc phòng mà cả về hậu quả sinh thái – môi trường, cũng như về hiệu quả kinh tế – xã hội, mặc dù có hàng ngàn cựu cán bộ lãnh đạo, nhân sĩ trí thức và các nhà khoa học lên tiếng kiến nghị Bộ Chính trị, Quốc hội và Nhà nước dừng dự án này!
4- Tại sao các công ty TQ lại trúng đến 80-90% các gói thầu trọn gói EPC (thiết kế – mua sắm – xây dựng) trong các dự án về KT-XH, đặc biệt là các dự án nhiệt điện, và tại sao ta chấp nhận hàng chục ngàn lao động phổ thông TQ (có phép và không phép) vào thực hiện các dự án này? Tại sao ta lại để cho thương nhân và các doanh nghiệp TQ tự tung tự tác trên khắp lãnh thổ của ta, lừa đảo nông dân ta, lũng đoạn và phá hoại nền kinh tế đất nước ta một cách dễ dàng như chốn không người như vậy?
5- Gần đây TQ ngang ngược và trắng trợn hạ đặt giàn khoan Haiyang Shiyou 981 để khoan thăm dò dầu khí sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN mà ta lại không dám nhân cơ hội này kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như Philippines đã làm? Do ta chưa chuẩn bị kịp hồ sơ pháp lý hay vì một nguyên nhân nào khác? Trong vụ giàn khoan này TQ đã không chỉ chà đạp luật pháp và chủ quyền của VN mà còn vi phạm thô bạo Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS) của LHQ. Dư luận rộng rãi trên toàn thế giới phản đối, lên án TQ và đồng tình, ủng hộ VN. Rất tiếc ta lại không tận dụng thời cơ và lợi thế này để vạch mặt bọn “vừa ăn cướp vừa la làng”! Trung Quốc không chỉ ngang ngược mà họ còn phi lý và trịch thượng nữa! Qua hãng thông tấn chính thức Tân Hoa Xã, họ đưa ra “4 yêu sách VN không được làm” trong đó họ đề cập xa gần và bóng gió đến thỏa thuận Thành Đô 1990!
- v.v.
Xung quanh Hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà VN đã ký với TQ ở Thành Đô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định, thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm, bất lợi về mặt dư luận… làm người dân hoang mang, bán tín bán nghi, không biết đâu là hư, đâu là thực! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt – Trung, đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với TQ ở Thành Đô.
Là chủ nhân ông của đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết về những vấn đề trọng đại của quốc gia, trong đó có sự thật về quan hệ VN – TQ trong những năm qua, đặc biệt là các thỏa thuận đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990. Hơn nữa,Điều 4 Hiến pháp 2013 đã ghi  rất rõ: “ĐCSVN… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội… Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Do vậy việc lãnh đạo Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối bang giao Việt – Trung và các thỏa thuận đã ký với TQ ở Thành Đô là một việc nên làm, cần làm và phải được làm vì điều này chỉ có lợi cho Nhân dân và Đất nước.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI sẽ sớm nhóm họp Hội nghị Trung ương lần thứ 10 trong thời gian tới  để duyệt xét mối quan hệ VN – TQ và đưa ra các quyết sách liên quan. Nhân dân rất kỳ vọng một trong các quyết sách này là Đảng sẽ báo cáo cho toàn dân biết sự thực về mối quan hệ với TQ trong 1/4 thế kỷ qua trong đó có các thỏa thuận mà lãnh đạo Đảng ta đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990 kèm theo một lời tạ lỗi chân thành! Nếu đúng thì đây sẽ là một trong các quyết định dũng cảm, hợp lòng dân và quan trọng nhất trong lịch sử tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hà Nội, 3/8/2014
N.Đ.Q. (Nguồn BVN)

Hãy nhìn sang Miến Điện

Thiên Hạ Luận

ClintoninMyanmar

Trung Quốc đại Hán luôn tự coi mình là con Trời, tha hồ có tham vọng lớn, vì ý muốn của mình được Trời phù hộ, bao giờ cũng được toại nguyện, dù cho đó là cuồng vọng. Gần đây ý muốn của Bắc Kinh là bành trướng xuống phương Nam, vừa để khai thác những tài nguyên dồi dào, vừa nhằm mở đường cho giao thông vận tải tỏa rộng ra khắp thế giới.
Vụ đưa giàn khoan cực lớn HD-981 xuống vùng biển Việt Nam là biểu hiện của tham vọng kép ấy. Nó vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam, của khu vực, và của toàn thế giới.
Mặt khác, cũng theo hướng bành trướng xuống phương Nam, Bắc Kinh từng cố nài ép Miến Điện thực hiện một kế hoạch xây dựng đường sắt quy mô lớn nối liền Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, với thị trấn Kyaukpyu thuộc bang Rakkhine của Miến Điện. Con đường sắt dự định dài 1.200 kilômet, dọc theo ống dẫn dầu và ống khí đốt đã có cũng do Trung Quốc đầu tư từ cuối thế kỷ trước. Thỏa thuận đầu tiên giữa 2 bên được ký từ tháng 4 năm 2011, với vốn đầu tư là 20 tỷ đôla. Đây là đường sắt chiến lược trọng điểm sẽ mở đường giao thông vận tải xuống phương Nam, đến vùng biển Andaman trong vịnh Bengal của Ấn Độ Dương. Khi mở được con đường này hàng hóa của Trung Quốc từ Trung Đông và phương Tây chuyên chở về sẽ được rút ngắn rất nhiều, không phải đi vòng xuống eo biển Malacca rồi hướng lên phía Bắc đi qua vùng biển của các nước Đông Nam Á, của Việt Nam để cập các bến cảng Trung Quốc.
Ngày 22/7 vừa qua báo Myanmar Times đưa tin chính quyền Miến Điện đã quyết định từ bỏ hẳn kế hoạch hợp tác với Trung Quốc xây dựng tuyến đường sắt lớn Kyaukpyu – Côn Minh, với lý do là bảo vệ môi trường và tôn trọng nguyện vọng của nhân dân địa phương kiên quyết phản đối kế hoạch này vì nó sẽ đảo lộn cuộc sống của họ.
Dư luận còn nhớ cuối năm 2013 Miến Điện đã hủy bỏ kế hoạch đã ký với Trung Quốc cùng hợp tác xây dựng một con đập lớn và một nhà máy thủy điện ở Myitsone trên sông Irawaddy có giá trị 3,6 tỷ đôla, với điều kiện sẽ bán điện với giá rẻ cho Trung Quốc trong 20 năm. Việc hủy bỏ việc xây dựng đập và nhà máy thủy điện lớn Myitsone là một thất bại lớn về chính trị – kinh tế – đầu tư của TQ. Nay việc hủy bỏ việc xây dựng đường sắt chiến lược lớn xuống vịnh Bengal ra Ấn Độ Dương là thêm một thất bại lớn nữa về chính trị – kinh tế- đầu tư của Trung Quốc.
Nguyên nhân của thất bại chiến lược kép liên tiếp trên đây của TQ là sự thay đổi hệ thống chính trị- kinh tế ở Miến Điện, từ chế độ quân phiệt độc đoán của nhóm tướng lãnh thân TQ chuyển sang hệ thống dân chủ đa đảng, tôn trọng lá phiếu tự do của cử tri, đẩy mạnh quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện với các nước dân chủ phương Tây, trong khi vẫn giữ quan hệ láng giềng bình thường, bình đẳng với ông bạn cũ TQ.
Do sự bẻ lái chính trị ngoạn mục trên đây của nhóm lãnh đạo chính quyền cao nhất của Miến Điện, thông hiểu nguyện vọng của đông đảo nhân dân và am hiểu thời đại mới của thế giới, Miến Điện bước vào thời kỳ phát triển và hội nhập hoàn toàn mới mẻ. Đây là một trong những chuyển biến tiến bộ có ý nghĩa đột phá của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI.
Thế là bao nhiêu mưu đồ, tiền của, gạ gẫm, răn đe của Trung Nam Hải từ thời Mao – Chu đến thời Đặng Tiểu Bình bị tiêu tan. Giấc mộng tràn xuống phương Nam mở đường xuống Ấn Độ Dương của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình đang trở thành ảo ảnh.
Báo Myanmar Times ra cuối tháng 7/2014 cho biết năm 2010 vốn đầu tư của Trung Quốc đổ vào Miến Điện còn là 8,6 tỷ đôla, đứng đầu các nước bỏ vốn vào nước này, từ năm 2011 số vốn này bị rơi tõm theo chiều thẳng đứng, đến năm 2013 chỉ còn vẻn vẹn có 200 triệu đôla. Các nước hiện dẫn đầu trong đầu tư vào nước này là Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Ấn Độ. Quỹ viện trợ để phát triển ODA của Miến Điện cũng tăng nhanh, chủ yếu từ Hoa Kỳ, Liên hiệp châu Âu, Úc, Canada và từ Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế. Một sự xoay chuyển hoành tráng, đồng bộ, toàn diện: chính trị- kinh tế- tài chính đầu tư – ngoại giao.
Đài VOA ngày 1/8/2014 cho biết một tòa án Miến Điện đã tuyên án 8 công dân TQ mỗi người hơn 10 năm tù giam vì đã nhập vũ khí trái phép vào Miến Điện. Đây không phải chỉ là việc buôn lậu vũ khí kiếm lời, mà còn là âm mưu của nhóm lãnh đạo đảng CS TQ trang bị cho một số nhóm tàn dư Maoist thuộc dân tộc thiểu số, nhằm gây bất ổn chính trị, phá hoại quá trình dân chủ hóa ở vùng giáp giới với TQ. Rõ ràng Miến Điện không còn là «sân sau» của Trung Nam Hải như các ông con Trời mong muốn lâu nay.
Lúc này, hơn lúc nào hết, giới lãnh đạo CS ở Việt Nam, Bộ Chính trị, Quốc hội VN, nhân dân Việt Nam hãy theo dõi kỹ những chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện của Miến Điện để khám phá ra những cảm hứng chính trị quý giá rất cần thiết khi chính lãnh đạo đảng CS đặt ra việc tổng kết sự nghiệp đổi mới gần 50 năm qua, từ 1965 đến nay.
Cái yếu kém, có thể nói thẳng ra là thất bại trong đổi mới ở Việt Nam là đã đổi mới nửa vời, không toàn diện, không đồng bộ, không nhất quán, đổi mới kinh tế mà không đổi mới về chính trị, đổi mới về hành chính mà không đổi mới về thi hành pháp luật, về quyền sở hữu tư nhân, về quản trị ngành ngân hàng, rồi «bỏ quên» hẳn đổi mới trên lĩnh vực đối ngoại để kết bạn, kết liên minh với các bạn bè tốt đáng tin cậy, do trót dại, nhẹ dạ, bí hiểm chui vào cái «cũi Thành Đô» từ tháng 9/1990 đến nay.
Không tỉnh táo và dũng cảm về chính trị, không dám nhìn thẳng vào sự thật thì sẽ không rút ra được bài học nào bổ ích, sự nghiệp đổi mới vẫn nửa vời, què quặt, đất nước vẫn chìm đắm trong bất công, tham nhũng và lạc hậu, ngày càng tụt hậu thêm, có nguy cơ trở thành nước độc đoán chậm tiến toàn diện cuối cùng của thế giới hiện đại.
Blog của Nhà báo Bùi Tín 

Ai đã bắn rơi máy bay của ông John McCain?

ĐCV: Câu chuyện về Jonh McCain nóng lên khi mới đây ông được bí thư thành ủy Việt Nam, ông Phạm Quang Nghị tặng món quà chính là tấm bia kỉ niệm mà Hà Nội mới dựng ghi lại chiến tích bắn hạ chiếc máy bay do John McCain lái.
Hai tấm hình chụp tấm bia, ghi hình ảnh viên phi công đang giơ tay đầu hàng, cạnh đó là những thanh thiếu niên đang thong dong đi dạo ven hồ đã làm cho ngài thượng nghị sĩ thật sự hào hứng và xúc động. Nó gợi lại cho con người mà chúng tôi đang ngồi bên cạnh nhớ lại quá khứ – một quá khứ thật khốc liệt và đầy ý nghĩa với cả người “từ trên trời rơi xuống” theo đúng nghĩa đen, và những người “từ dưới đất xông lên”, vít cổ chiếc máy bay của vị thiếu tá phi công năm xưa, bây giờ là một thượng nghị sĩ có thâm niên và uy tín lớn trong chính giới Hoa Kỳ.”
Quà tặng của ông Nghị đã gây bão trong cộng đồng mạng khi nhiều bình luận cho rằng, nó kém tính ngoại giao, sỉ nhục người nhận, là ‘ngu xuẩn’…
John McCain sau khi rơi xuống hồ Trúc Bạch, được một nông dân vớt lên trong tình trạng bị thương, ông bị giam ở Hỏa Lò và sau này được trao trả. Trong những lần thăm lại Việt Nam, John đã gặp người cứu mình từ lòng hồ, trong tình trạng bị dây dù quấn và đã gẫy chân.
Nhưng ai là người đã bắn rơi máy bay của John McCain thì không thấy báo chí Việt Nam nhắc đến, dù những năm gần đây, cái tên John McCain trở nên quen thuộc với truyền thông Việt Nam như một biểu tượng về thành công của chính sách ngoại giao của nhà nước cộng sản, hay một biểu tượng của quan hệ Việt – Mỹ.
Mới đây, một facebooker đã phát hiện điều này. Người bắn rơi máy bay do John McCai lái là một chuyên gia huấn luyện của Nga.
Mẩu chuyện bên dưới chia sẻ điều này:



nga-1

Năm 2008 khi ông Yury Trushyekin lên tiếng trên báo chí Nga rằng chính ông mới là người bắn rớt máy bay của ông Thượng Nghị Sĩ Mỹ John Mc Cain, lúc ấy còn là thiếu tá hải quân Mỹ, thì đài truyền hình Nga đã nhiều lần phỏng vấn vị “anh hùng” này. Ông này về cuối đời sống nghèo khổ trong 1 căn hộ ở ngoại ô St Petersburg.
Ông Yury Trushyekin cho biết trong suốt thập niên 1960 -1970, đã có hàng ngàn binh lính và sĩ quan Nga được điều động sang miền Bắc Việt Nam để giúp quân cộng sản Bắc Việt chống Mỹ. Phần lớn làm công tác cố vấn, ngoài ra còn có mặt trực tiếp tại chiến trường để huấn luyện cho bộ đội CSVN cách sử dụng những vũ khí mà Nga cung cấp.

Đài Nga đưa tin
Đài Nga đưa tin
Ông trưng ra hình ảnh, hộ chiếu và cả 1 bằng khen của nhà nước CS Bắc Việt làm bằng chứng.
Bộ đội Việt Nam ‘toàn bắn trượt’
Riêng về việc bắn hạ máy bay của ông John Mc Cain , ông Yury Trushyekin cho biết bộ đội VN toàn bắn hụt, ngày hôm đó đã bắn hết 12 quả đạn tên lửa mà chẳng trúng quả nào! Khi chỉ còn 1 quả cuối cùng, ông đã phải thân chinh nhắm bắn mới hạ được phi cơ của ông Mc Cain.

Hộ chiếu và bằng khen của ông Yury Trushyeki
Hộ chiếu và bằng khen của ông Yury Trushyeki

Ông còn cho biết chính ông đã cứu mạng ông John. Vì khi bộ đội CSVN vớt ông này lên, lúc đó đã bị gãy hết 2 tay và 1 chân , thì với lòng căm thù cao độ được huấn luyện sẵn, 1 đám đông đã nhào vào đánh đập, đâm ông này suýt chết. Ông Yury Trushyekin và đồng đội đã phải can thiệp và ra lệnh cho bộ đội ngừng tay và chỉ được bắt sống.
Trong cuốn hồi ký của mình, ông Mc Cain cũng kể lúc bị bắt, mặc dù bị trọng thương mình mẩy đầy máu và lúc ngất lúc tỉnh, ông đã bị hàng trăm tên bộ đội xông vào đấm đá, nhổ nước bọt và có ai đó còn cầm cả lưỡi lê đâm vào hông và chân ông!
Ông Yury Trushyekin kể tiếp rằng sau đó ông có vài lần vào thăm ông Mc Cain trong Hỏa Lò, nơi còn được gọi mỉa mai là “khách sạn Hà Nội Hilton”. Ông nói CSVN đã cố gắng “cải tạo tư tưởng” cho ông John bằng cách bắt ông này đọc những quyển sách giáo điều cộng sản dày cộm, bao gồm cuốn của Karl Marx. Khi được hỏi nếu bây giờ gặp lại ông John Mc Cain thì ông sẽ nói gì? Ông Yury Trushyekin cười và bảo ông sẽ hỏi ông John đã đọc hết cuốn Marx chưa!
Riêng ông Mc Cain cho biết lúc đầu ông bị đối xử rất tệ hại, nhưng sau khi biết được ông là con trai và cháu nội của 2 vị tướng lừng danh của Mỹ thì ông được ưu đãi hơn , vì CS Bắc Việt biết ông có giá trị trao đổi. Lúc đó ông mới được chữa trị vết thương, và cái chân gãy được mổ, nhưng các bác sĩ làm việc quá dở làm dứt hết mấy sợi gân, khiến chân ông bị tật cho đến bây giờ .
Tổng hợp theo  heraldsun.com.auenglishrussia.com và FB Ngoc Nhi Nguyen

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Bệnh tự hào dân tộc của người Nga





Natalja Kljutcharjova
Phạm Thị Hoài dịch
Tôi là nhà văn, và các liên tưởng tôi thường dính líu tới văn học. Sau các sự kiện ở Krym, cuối cùng tôi đã hiểu ra rằng dân nước tôi và vị Tổng thống do “toàn dân” bầu nên của đất nước này khiến tôi liên tưởng đến ai. Họ giống các nhân vật của Dostoevsky, ông gọi họ là “những kẻ ở xó hầm”. Đó là những con người sống rất lâu, thường là suốt đời, trong trạng thái bị hạ nhục, khiến tâm lí họ hoàn toàn bị méo mó. Cả cuộc đời họ, toàn bộ những ước mơ và nguyện vọng của họ chỉ rút gọn vào một mục tiêu: trả thù, rửa nhục. Nỗi khao khát trả thù bệnh hoạn ấy phần lớn không nhằm cụ thể vào những kẻ nào đó đã làm nhục họ, mà chĩa vào toàn thế giới. Dostoevsky đã miêu tả nhiều giai đoạn phát triển của căn bệnh mà giới tâm lí học hiện đại chắc sẽ gọi là một “chấn thương bỏ ngỏ” này. Nó đặc biệt ăn sâu ở những người không bao giờ ra khỏi trạng thái bị hạ nhục.
Ở Nga ngày nay cũng hệt như ở thời Dostoevsky, cả cuộc đời người ta thường là sự hạ nhục: từ khi sinh ra trong một bệnh viện bình dân (một chi nhánh thực thụ của địa ngục) đến lúc say xỉn ở góc đường mà chết. Những con người sống một cuộc đời như thế thường hình thành một lòng tự hào bệnh hoạn. Để phục hồi sự cân bằng nội tâm vốn liên tục bị những hoàn cảnh ê chề bên ngoài tàn phá, muốn sống còn thì họ buộc phải có một điều gì đó để tự hào. Cơ sở để tự hào có thể hoàn toàn ngớ ngẩn và viển vông, nhiều khi đơn giản là bịa đặt và hầu như bao giờ cũng phi lí, khiến người có tư duy bình thường, lành mạnh phải bật cười hoặc
nhún vai cho qua. Nhưng những kẻ bị hạ nhục kinh niên thì bám chặt lấy những ảo ảnh ấy, đầy đức tin, cuồng tín, nhiệt thành và trong thâm tâm càng bất mãn thì càng hăng say phụng sự chúng.
Từ góc nhìn này, tôi thấy tất cả những gì đang được bộ máy tuyên truyền ở Nga mệnh danh là “làn sóng yêu nước”, “tinh thần yêu nước” v.v. là biểu hiện của một căn bệnh tâm hồn trầm trọng mà không ai buồn chạy chữa. Bao giờ cũng vậy: hiện thực ngay trước mắt càng tồi tệ, đất nước càng ngập ngụa những vấn đề không được giải quyết thì những tiếng “Hura” trong các cuộc biểu tình càng to, dân chúng càng cuồng nhiệt hân hoan khi lãnh tụ xuất hiện trên khán đài trước Lăng Lenin. Nếu không được “xả hơi” đều đặn, một kẻ bị hạ nhục sớm hay muộn sẽ nổ tung, khi đó hắn sẽ giết một bà già và làm một cuộc cách mạng, như nhân vật Raskolnikov của Dostoevsky trong tiểu thuyết Tội ác và Hình phạt. Chế độ Nga hoàng đã không thèm đếm xỉa đến tình cảnh đó và vì thế mà tiêu vong.
Nhà cầm quyền hiện nay biết chọn một đường lối an toàn để dân chúng quy phục, bằng cách đều đặn cấp cho dân chúng những dịp tốt để tự hào và hô “Hura” thật to. Với hệ thống truyền hình do nhà nước triệt để định hướng thì việc đó không khó khăn gì. Điều này khiến tôi nhớ đến những bệnh viện tâm thần ở Nga, tại đó bệnh nhân không được điều trị, mà được bình trị bằng uống thuốc an thần và diệt mọi khả năng nhận thức.
Tất nhiên người dân Nga không nên tự hào về bản thân mình như những cá nhân độc đáo (vì các cá nhân thì khó chăn dắt hơn một bầy đàn), mà tự hào về mình như một bộ phận của cộng đồng, họ thuộc về cộng đồng không nhờ những cống hiến nào đó mà chỉ nhờ huyết thống. Lòng “tự hào dân tộc” thật đắc dụng cho việc này. Nhưng cứ nghe những tiếng như “lòng yêunước” và “ý niệm dân tộc” là trong tâm trí tôi hiện lên cảnh sau đây: Tôi còn nhớ một người đàn ông đầu cạo trọc, xăm trổ đầy mình, bẩn thỉu, tuyệt đối méo mó và bệ rạc, chân vòng kiềng, lảo đảo giữa một thành phố tỉnh lẻ buồn thiu. Ông ta mặc một chiếc áo phông mới tinh, có in dòng chữ kiêu hãnh: “Tôi là người Nga!” Người ta tự hào, chẳng hạn về Thế vận hội Olympic hoành tráng và nhắm mắt trước thực tế là cái sự kiện rùm beng đó đã ngốn một khoản khổng lồ trong ngân sách quốc gia (một phần lớn vì tệ quan chức ăn cắp của công đã đạt tới những kích thước cực đại). Không lâu nữa chúng ta sẽ được ngấm mùi hậu quả của sự phung phí ngân sách khủng khiếp này. Nhưng phần lớn người Nga không nhìn ra tương quan giữa những hình ảnh rực rỡ từ Sochi và những đợt tăng giá, những khoản nợ công và thâm hụt ngân sách sắp tới. Họ lại ru mình một lúc lâu trong giấc mơ ngọt ngào đẹp đẽ về một “cường quốc”, trong đó đời sống mỗi ngày một “vui tươi và khấm khá”, như Stalin từng nói. Họ quên mất rằng cái gọi là cường quốc ấy không có tiền cho những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân. Rằng trường học thì cũ nát, đổ sập và con cái họ sẽ vùi xác ở đó. Rằng người già, cả đời lao động cho nhà nước để rồi phải đi ăn xin vì lương hưu không trả nổi tiền nhà. Có thể kể vô tận những ví dụ như vậy. Hoặc họ tự hào về một điều mà lẽ ra người ta nên hoảng sợ, chẳng hạn về vụ sáp nhập Krym, khiến nước Nga rơi vào vị trí không mấy hay ho là bị cô lập trên trường quốc tế và dấn sâu vào một cuộc chiến với lân bang… Một chân dung thế lực thù địch, thật dễ dàng và tiện lợi để trút mọi cảm xúc của một dân tộc bị hạ nhục vào đó, như trút xuống cống nước thải. Hình ảnh đại diện cho thế lực thù địch Chechnya, một kẻ khủng bố đeo bom tự sát, đã quá nhàm chán, cả những người mà truyền hình nói gì đều tin hết cũng không còn tin vào đó nữa. Sau những vụ khủng bố mới đây trong ga tàu điện ngầm ở Moskva, thậm chí cả những người về hưu và các bà nội trợ cũng bảo nhau rằng Chechnya chẳng liên quan gì hết, đó chỉ là trò mở màn cho chiến dịch tranh cử mà thôi. Một hình ảnh khác của thế lực thù địch, kẻ tranh đấu cho tự do, tham gia các cuộc tuần hành của những phần tử phẫn nộ và mang cách mạng ra đe đất nước, cũng đã hết thời: người ta lấy đó làm ngáo ộp để dọa dân chúng và nhân tiện đả thông luôn, rằng chỉ có Putin mới cứu nổi đất nước này khỏi nguy cơ hỗn loạn. Và vị “cứu tinh” duy nhất ấy lại được nhất trí bầu thêm một nhiệm kì phi pháp nữa, nhiệm kì thứ ba. Bầu xong thì những phần tử phẫn nộ bị vứt luôn, như vứt những quân bài đã hạ, biểu tình bị dẹp, người biểu tình bị tống vào nhà tù, những cơ quan truyền thông độc lập cuối cùng còn sót lại bị đóng cửa. Bây giờ chúng ta có một chân dung thế lực thù địch mới: những người anh em Ukraine và “bọn Mỹ xấu xa”, khui ra thật nhanh từ kho đạn dược của bộ máy tuyên truyền Xô-viết. Vậy là những kẻ bị hạ nhục có việc để bận tâm: họ tự hào về đất nước (vì cuối cùng thì “sự công bằng của lịch sử đã được khôi phục”!) và giơ nắm đấm lên dọa thế lực thù địch nóng hổi vừa ra lò. Vậy là họ, những kẻ bị hạ nhục, không nguy hiểm. Trong một thời gian nhất định. Sau đó người ta sẽ dành cho họ một chân dung thế lực thù địch mới. Tất nhiên người ta sẽ lo sao để chiến tranh thực sự không xảy ra (nếu tình hình không đến nỗi mất kiểm soát). Vì chiến tranh, với hậu quả của nó là chết chóc và đau thương, tất yếu khiến dân chúng tỉnh ra và trở về với hiện thực. Nhưng chính quyền cần những cái đầu mụ mị, dễ lái về hướng cần lái hơn. “Tự hào dân tộc” thật là tiện. Nó chỉ bất tiện ở một điểm: phải liên tục tăng liều lượng, nếu không thì nó hết tác dụng. Hiện tại, chính quyền Nga đã phải dùng đến những chất rất dễ tuột khỏi tầm kiểm soát. Như một kẻ nấu rượu đang tâm dụ cho dân uống, để rồi chính mình rơi dần vào vòng ma men và đánh mất khả năng tỉnh táo trước hiện thực. Bất kì ai biết tư duy lành mạnh đều thấy không thể cứ như vậy mãi được. Nhưng ở Nga, những người còn có khả năng đánh giá đúng tình hình thật ít ỏi. Phải thắp đuốc lên đi tìm họ. Người thì đã bỏ nước mà đi, trước khi quá muộn. Người thì ngồi trong tù. Người thì đã khiếp nhược, rút về an phận nhà cửa ruộng vườn. Cả trong hàng ngũ chính quyền lẫn trong dân chúng đều không có những người biết tư duy lành mạnh như vậy. Ở Nga, những nhân vật nêu trên của Dostoevsky cũng có mặt trong chính quyền, những kẻ bị đè nén và vì thế mà méo mó đến vô vọng do mặc cảm. Và khi một kẻ bị đè nén leo được lên đến đỉnh quyền lực thì điều gì sẽ xảy ra? Dostoevsky cũng đã viết rất nhiều về chuyện đó, chẳng hạn trong tiểu thuyết Làng và dân Stepanchikovo. Điều gì sẽ xảy ra? Không có gì là tốt đẹp. Kết quả là một bạo chúa cỡ nhỏ và một nhà độc tài hèn nhát.
________
Natalja Kljutcharjova (1981) sống ở ngoại ô Moskva, là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết Nước Nga – Ga cuối và Làng dân ngu.
Nguồn: Welt, 09-4-2014
Bản tiếng Việt © 2014 pro&contra

Putin trước ngõ cụt của khủng hoảng Ukraina

RFI. Thứ bảy 02 Tháng Tám 2014

Ngoại trưởng Lavrov và Tổng thống Putin bàn về tình hình Ukraina - REUTERS /Maxim Zmeyev


Khủng hoảng Ukraina đang đẩy ông Putin vào tình thế càng ngày càng khó có thể tìm ra một lối thoát. Tổng thống Nga đang đau đầu trước một mớ bòng bong giữa những biện pháp trừng phạt của phương Tây ngày càng siết chặt, sự cân nhắc ủng hộ phe ly khai và dư luận trong nước có thể sẽ thất vọng về chính sách đối với Ukraina của Kremlin một khi phải hứng chịu hậu quả của một nền kinh tế suy yếu.

Trên đây là những nhận định chung của giới phân tích về cuộc khủng hoảng Ukraina, vốn đã phức tạp ngay từ đầu, giờ càng lún sâu vào bế tắc.
Ngay từ đầu cuộc khủng hoảng Ukraina mà cao điểm là từ khi được quốc tế hoá sau vụ sáp nhập Crimée vào Nga, tổng thống Vladimir Ptin đã sử dụng nhiều chiến thuật để đối phó với những đòn trừng phạt của phương Tây. Trong đó, tổng thống Nga đã khôn khéo chia rẽ các nước trong Liên hiệp châu Âu, đặc biệt là thái độ dè dặt của Đức, nước có có nhiều lợi ích nhất trong quan hệ làm ăn với Nga.
Tuy nhiên, diễn biến mới bất ngờ xảy ra hôm 17/07/2014 khi chuyến bay MH 17 của hàng không Malaysia bị rơi tại vùng miền đông Ukraina, mà nguyên nhân theo Kiev và Washington là do tên lửa của phe ly khai thân Nga bắn. Sau biến cố khiến cho 298 con người vô tội thiệt mạng đó, phương Tây không ngần ngại khẳng định Nga hậu thuẫn, cung cấp vũ khí cho phe nổi dậy tại Ukraina. Tiếp theo các cáo buộc trực diện nhắm vào Matxcơva, tuần qua, Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu đã nhất loạt tăng cường các biện pháp từng phạt đánh thẳng vào kinh tế của Nga.
Các biện pháp trừng phạt mới bắt đầu được áp dụng từ hôm qua (01/08), theo đó cấm ít nhất trong vòng ba tháng những ngân hàng lớn của Nga tiếp cận thị trường vốn của châu Âu, cấm vận bán vũ khí và một số thiết bị quan trọng cho ngành dầu khí đối với Nga.
Mục tiêu của các trừng phạt kinh tế mới đối với Nga là rõ ràng : Buộc Tổng thống Putin từ bỏ việc sáp nhập « bất hợp pháp » bán đảo Crimée và chấm dứt sự ủng hộ về quân sự đối với phe ly khai thân Nga ở miền đông Ukraina.
Hãy còn quá sớm để có thể đánh giá được hiệu quả của các biện pháp trừng phạt với Nga. Như chuyên gia chính trị Konstantin Kalatchev, lãnh đạo trung tâm phân tích « Expert Politique » nhận định : « Ngay tức thời, các biện pháp trừng phạt đó không buộc ông Putin thay đổi chính sách đối với Ukraina, nhưng về lâu về dài thì có thể ».
Vẫn theo chuyên gia Kalatchev, cái khó cho ông Putin là kinh tế Nga lúc này đang đứng bên bờ suy thoái, « nếu như người dân trong nước bắt đầu cảm nhận được hệ lụy của các biện pháp trừng phạt » đè nặng lên cuộc sống của họ thì khi đó ông Putin sẽ mất đi rất nhiều điểm tín nhiệm trong dân chúng, trong khi mà chính quyền Nga phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của ông Putin ở trong nước.
Quyết định sáp nhập Crimée về Nga và chính sách bảo vệ những người nói tiếng Nga cũng như phe ly khai thân Nga ở Ukraina đã giúp cho Tổng thống Nga có được 80% dư luận ủng hộ, một tỷ lệ được lòng dân lớn chưa từng có từ khi ông Putin lên nắm quyền lần đầu vào năm 2000.
Thế nhưng, đến giai đoạn này của cuộc khủng hoảng Ukraina, « ông Putin đang rơi tình thế khó khăn », như nhận định của nhà phân tích chính trị Nga bà Maria Lipman. Theo bà Lipman : « Nếu ông Putin không thay đổi chính sách, các trừng phạt sẽ nặng nề hơn. Ông ta đang cố xoay sở sao cho không bị cho là lùi bước. Nhưng phạm vi hành động của ông lại rất hạn hẹp ».
Theo một cuộc thăm dò dư luận Nga công bố hôm 31/7, chỉ có 1/4 người dân ủng hộ một cuộc can thiệp trực tiếp của Nga vào Ukraina. Trong khi đó, phương Tây không ngừng hối thúc Matxcơva phải ngừng ngay sự ủng hộ quân sự đối với lực lượng ly khai thân Nga ở miền đông Ukraina trước khi tìm giải pháp cho khủng hoảng trên bàn ngoại giao.
Nếu như Tổng thống Nga đang đau đầu tìm lối thoát khỏi cuộc khủng hoảng Ukraina đang có chiều hướng ngày thêm nguy hiểm này, thì Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu cũng đang phải đối mặt với câu hỏi không dễ dàng là làm sao ngăn chặn được leo thang căng thẳng mà không bị mất mặt.
Nhật báo Anh The Independant mới đây đã tiết lộ một kế hoạch Nga – Đức đang được nghiên cứu, theo đó Nga bảo đảm an toàn biên giới Ukraina và cấp năng lượng cho châu Âu, đổi lại, quốc tế công nhận vụ sáp nhập Crimée vào Nga. Thông tin này đã bị Berlin phản bác ngay lập tức.
Nhà phân tích chính trị Lipman đặt vấn đề : « Cuộc xung đột ở Ukraina đang trở nên nghiêm trọng và nguy cơ bị quốc tế hoá là có thật. Phương Tây có phương tiện để gây thiệt hại cho nước Nga nhưng không thể làm chấm dứt cuộc chiến này mà không có mặt Nga. Vậy liệu phương Tây sẽ tạo cơ hội cho Putin để làm việc đó ? ».
Vấn đề mấu chốt hiện nay có lẽ nằm ở kết luận của các chuyên gia đang điều tra vụ chiếc máy bay số hiệu MH 17 bị rơi. Ông Putin vẫn luôn cân nhắc thận trọng sự ủng hộ đối với phe ly khai thân Nga.
Nếu các nhà điều tra quy trách nhiệm cho phe ly khai trong vụ tai nạn của máy bay MH 17 thì đó sẽ là « một gánh nặng mà ông Putin không thể mang thêm được nữa. Vì các giá phải trả sẽ quá đắt, khi đó có lẽ ông Putin sẽ bỏ rơi phe ly khai », Andrei Kolesnikov, một trong số các nhà báo Nga hiểu rõ ông Putin nhận định.